Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và MỞ ỨNG DỤNG SHOPEE để mở khóa toàn bộ chương truyện.

https://s.shopee.vn/16x5EGY4t

Quạt mini GOOJODOQ 100 tốc độ gió có thể điều chỉnh màn hình kỹ thuật số cầm tay

Nội dung trên chỉ xuất hiện 1 lần trong ngày, mong Quý độc giả ủng hộ.

Mỗi click là một lời cổ vũ để Sen mang đến nhiều câu chuyện hấp dẫn hơn nữa!

Chương 2

“Bề ngoài đẹp đẽ, bên dưới hoàn ẩm. Lúc xào hỏa hầu quá gấp, dầu không được ép sạch; niêm hò lại sớm, hơi nóng om ở bên trong. Loại ruốc này, hôm nay còn thơm, bảy ngày sau sẽ thành một đống bã chua.”

Quan lại cau mày.

Lục Thanh khẽ nói: “Thẩm cô nương, cô làm ruốc thịt, tất nhiên có thể nói ra rất nhiều đạo lý. Nhưng chỉ dựa vào vài lời của cô, e rằng…”

Ta buồn để ý ta, xoay người cầm lấy một miếng bánh gạo khô.

Vỏ ngoài nướng vàng giòn, nhưng khi bẻ ra lại không giòn rụm, lõi bên trong có chút dính dớp vào đầu ngón tay. Ta ngửi thử rồi sang một bên.

“Bột gạo chưa ráo hẳn, vỏ ngoài lại bị ép lửa. Hơi ẩm trong khoang thuyền đè lên, ba ngày là phát chua.”

Một thuyền hộ chen vào, cầm nửa miếng bánh gạo lên ngửi, sắc mặt biến đổi.

“Đúng là có mùi chua thật.”

Câu nói này còn có tác dụng hơn ta nói mười câu.

Quản sự Lục gia cuống lên: “Ông thì biết cái ? Đây là phương pháp mới của Lục gia!”

Ta nhìn ông ta: “Thuyền cung viễn dương không sợ không ngon, chỉ sợ ở giữa biển.”

Cầu cảng im lặng đi đôi chút.

Ta đi đến chỗ vịt om bã rượu.

Miệng vò niêm phong rất đẹp, dây đỏ quấn ba vòng, thơm cũng đủ. Nhưng khi ta mở nắp, mùi đầu tiên ngửi thấy là nổi của bạch khấu và tiểu hồi, còn mùi tanh của vịt bên dưới lại không ép được, mỡ lạnh bám trên da như một lớp nhớp nháp.

Ta dùng đầu đũa khẽ lách dưới da vịt.

Màu thịt nhạt, không ngấm vào tận xương.

liệu bỏ đúng theo đơn nhưng sai tự rồi.” Ta đũa , “Bạch khấu bỏ sớm quá sẽ đắng, sả bỏ muộn quá sẽ không khử được tanh. Không có bã rượu lâu năm ép lấy hơi thịt, đi biển hai ngày, vò nóng lên, đầu tiên chính là món này.”

Nụ cười của Lục Thanh nhạt đi đôi chút.

ta vẫn ôn tồn: “Thẩm cô nương nói khẳng định như vậy, cứ như Lục gia biết làm . Nhưng thuyền cung ghi rõ ràng, Lục gia hiến cung, quan phủ đã nghiệm .”

Ta nhìn ta: “Quan phủ nghiệm là cái .”

Ta giơ tay chỉ vào những hũ đó.

“Thuyền hộ ăn là cái mạng.”

Lời này vừa dứt, sắc mặt vài thuyền hộ đều trầm .

Người viễn dương lên thuyền, một miếng bánh gạo có thể cầm cự nửa ngày, một nhúm ruốc thịt có thể cứu lấy cái dạ dày sau khi say sóng. Món ăn trên bàn tiệc thì cùng lắm là mất vui; thuyền cung mà , là mạng người bị mốc meo giữa biển khơi.

Ánh quan lại nhìn ta đã khác: “Cô nói của Lục gia không thành, vậy của Thẩm gia là thành sao?”

Ta vén tay áo lên đến cổ tay.

“Cho ta một cái , nửa vò thịt cũ, một nắm củi khô.”

Lục Thanh nhìn quan lại, như muốn ngăn cản nhưng lại khó mở lời.

Bên cầu cảng nhanh chóng dựng bếp.

Sau khi nóng, ta dùng lửa nhỏ ép dầu trước, xẻng gỗ men theo thành từ từ ép . Thớ thịt từ mềm ẩm chuyển sang bông xốp, âm thanh cũng thay đổi theo.

Xào ruốc không thể chỉ nhìn màu sắc.

Mà phải nghe.

Khi hơi ẩm còn nặng, xẻng lật sẽ nghe tiếng đục; khi dầu đã tan hết, đáy sẽ phát ra tiếng rào rào như cát mịn. Đến khi hỏa hầu đạt chuẩn để lên thuyền, thớ thịt sẽ nhẹ, thơm trầm chứ không nổi lên.

Ta xúc ra một nắm, rải trên sàng tre, đưa cho vị thuyền hộ kia.

Ông ấy không ăn, mà ngửi trước.

“Mùi này đúng rồi.” Ông ngẩng đầu, “Không ngấy, sạch sẽ, ép được cái ẩm trong khoang thuyền.”

Ta lại mở một vò vịt om bã rượu nhỏ của Thẩm gia.

Nắp mở ra, thơm không nồng sực nhưng lại rất vững. Da vịt đã nguội không bám mỡ nổi, trong thịt có bã rượu, mùi tanh bị ép chặt trong kẽ xương, cứ như bị thu lại từ từ.

thuyền hộ gắp một miếng, nhai hai cái rồi gật đầu.

“Cái này mới là đi biển được.”

Gió trên cầu cảng thổi từ mặt sông vào, khiến những tấm vải đỏ họ Lục tung bay phần phật.

Những trước đó mắng ta phá gió Đông giờ đây im bặt.

Quan lại trầm hỏi quản sự Lục gia: “Lô hàng này tạm hoãn lên thuyền, kiểm tra lại toàn bộ.”

Quản sự Lục gia mặt cắt không còn giọt máu, Lục Thanh vậy mà vẫn đứng vững được.

ta rủ , như chịu ủy khuất: “Tay nghề Thẩm cô nương tốt, ta vốn luôn khâm phục. Chỉ là thuyền cung liên quan đến đại cục, nếu có tranh chấp giữa phương pháp cũ và mới, cũng không cần làm mất hòa khí trước mặt mọi người.”

Ta lau sạch dầu mỡ trên tay.

“Lục cô nương, cái mùi mốc trên thuyền sẽ không nói chuyện hòa khí với cô đâu.”

ta ngước nhìn ta.

Đôi ấy vẫn nhu , chỉ là bên dưới đã thêm vài phần lạnh lẽo.

Quan lại quay sang ta: “Nếu phương pháp là của Thẩm gia, tại sao lại ghi tên Lục gia?”

Ta không đáp.

Bởi vì khi Lục Thanh đưa tay vén áo, nơi cổ áo ta đã lộ ra một giấy cũ.

Mép giấy vàng ố, có một vết cháy xém nhỏ.

Đó là bản đồ thuyền cung của mẹ ta.

04

Sau khi nghiệm hàng tại cầu cảng, trước cửa Thẩm gia bớt đi vài lá rau thối.

Nhưng cũng chỉ là bớt đi mà thôi.

Ngọn gió từ miệng người đời lặng đi nhanh đến thế. Những trước đó nói ta phá gió Đông, quay ngoắt lại đã bảo ta tâm cơ thâm hiểm, cố tình làm nhục Lục gia tại tàu. Nhưng người đến trả đơn đã ít đi, đêm nếu còn muốn tạt nước tanh vào khe cửa, gã sai vặt tiệm tương kế bên sẽ ho lên một tiếng, khiến đó kinh sợ mà bỏ chạy.

Người ở Lưu Gia là những biết nhìn hướng gió nhất.

Ta không rảnh để nghe những chuyện đó.

Sau khi về tiệm, ta mang số ruốc thịt còn dư lúc nghiệm hàng trải ra lần nữa, nhặt bỏ lớp bị ám ẩm. Lại mở vò gốm ba ở hậu viện, lấy một thìa men bã rượu lâu năm để bù thêm vị cho số vịt om còn lại.

Lửa bếp không thể đứt, sổ không thể loạn, và nguồn hàng cũng không được để Lục gia nắm thóp.

Đợi đến lúc trời sập tối, ta mới bưng thuốc vào phòng trong.

Cha ta tựa vào đầu giường, sắc mặt xám ngắt, tay vẫn trên cuốn sổ nợ cũ. Ông bệnh rất nặng nhưng không chịu ngủ, nghe tiếng bước chân liền hỏi: “Cầu cảng sao rồi?”

“Ruốc thịt họ Lục bị hoàn ẩm, bánh gạo bị chua, vịt om không át được mùi tanh.” Ta đưa thuốc , “Quan phủ đã tạm dừng thu nhận lô hàng đó của Lục gia.”

Ông thở phào nhẹ nhõm, ho khẽ hai tiếng.

Ta không nói ngay chuyện về bản đồ cũ.

Trong phòng thắp một ngọn đèn dầu nhỏ, bấc đèn cháy ngắn lại, ánh sáng rơi trên mu bàn tay cha ta, soi rõ những đường gân xanh và những vết thương cũ.

Đồ của Thẩm gia, chưa bao giờ chỉ là vài dòng chữ.

Đó là đôi bàn tay, là ngọn lửa, là đôi không dám chợp suốt đêm thâu những ngày trời ẩm.

Ta đợi ông uống xong thuốc mới mở lời: “Cha, lúc nãy ở cổ tay áo Lục Thanh, con thấy một giấy cũ.”

Ông ngước : “Giấy ?”

“Thuyền cung đồ.” Ta nói, “Mép giấy vàng ố, dưới bên phải có một vệt cháy xém, giống như bị đèn dầu lửa .”

thuốc chạm vào thành giường, phát ra một tiếng động rất khẽ.

Sắc mặt cha ta thay đổi, còn khó coi hơn cả lúc nghe tin Thuyền Cung Phổ bị trộm.

Ông đưa tay bám lấy thành giường, đốt ngón tay dần trắng bệch: “Con nhìn kỹ rồi chứ?”

“Nhìn kỹ rồi ạ.”

Trong phòng im lặng đến mức chỉ còn nghe tiếng củi cháy từ gian bếp vọng lại.

Rất lâu sau, ông mới khàn hỏi: “Vệt cháy đó, có phải trông giống nửa hình trăng khuyết không?”

Ta gật đầu.

Cha ta nhắm nghiền .

Ông vén chăn định giường.

Ta ấn ông lại: “Cha.”

“Dưới đáy tủ.” Ông hổn hển nói, “ rương cũ của mẹ con.”

Ta đi bê rương.

rương đó đã nhiều năm không mở, khóa đồng đã sinh rỉ xanh. Nắp rương mở ra, một mùi giấy cũ và ngải cứu khô ùa tới.

Bên trong không có vàng bạc.

Chỉ có vài cuốn sổ nợ, nửa miếng bài hộ , và một xấp giấy tơi nát được bọc trong vải.

Cha ta lần tìm được một tờ trong đó, đưa cho ta.

Trên giấy vẽ hình đồ niêm vò.

Miệng vò ba lớp, lớp trong là giấy da dâu, lớp giữa là vải sáp dầu, lớp ngoài là đai tre. Bên cạnh ghi những dòng chữ nhỏ: Trời ẩm không được vội niêm phong, ruốc thịt ra phải để đêm tán hết khí, bánh gạo khô vào vò phải nghe tiếng vang thanh.

Nét chữ là của mẹ ta.

Từ nhỏ ta đã xem bà viết sổ, nét bút cuối luôn hơi hếch lên, như một câu nói còn dang dở.

“Tờ đồ đó không phải đồ bình thường.” Cha ta tựa đầu giường, thấp như tro tàn, “Đó là bản thảo thuyền cung viễn dương mà năm đó mẹ con đã chỉnh lý.”

Ta siết lấy tờ giấy nát, không lên tiếng.

Bên ngoài bỗng có tiếng gõ cửa.

Gã sai vặt ngoài cửa thấp nói: “Chủ tiệm, Lục gia lại đến ép nguồn hàng. Nói là sau này thuyền cung Lưu Gia đi theo Lục gia, không cho phép mấy hàng gạo bán gạo nợ cho Thẩm gia nữa.”

Cha ta bỗng ho sặc sụa.

Chuyện cũ chưa nói hết, nhát đao hiện tại đã đưa tới cửa.

Ta nói vọng cánh cửa: “Biết rồi. Bảo chưởng quầy hàng gạo sáng mai đến thanh toán nợ cũ, Thẩm gia không nợ gạo trắng, cũng không gánh tiếng thay cho ai.”

Tiếng bước chân lui đi.

Cha ta thở dốc một hồi mới nói tiếp: “Tờ đồ đó, là năm xưa Lục gia mượn đi.”

Ta nhìn ông.

“Lục gia nói, phương pháp thuyền cung của mẹ con có ích, chỉ để ở tiệm họ Thẩm thì phí quá. Họ quen người khắc bản in, sẵn lòng giúp bà khắc thành . Mẹ con đã tin.”

“Họ không trả ạ?”

“Không.” cha ta nghẹn lại, “Sau đó Lục gia ra , đề là Phương pháp thuyền cung cũ của Lục thị. Mẹ con đến đòi, bị họ chặn ngoài cửa. Sau đó nữa, trong cảng có người đồn rằng, mẹ con đã xem lén bí kíp của Lục gia, còn muốn trèo cao dựa hơi tiếng Lục gia.”

Đầu ngón tay ta siết chặt.

Cha ta vội nói: “Đừng bóp .”

Ta nới lỏng tay.

Khoảnh khắc đó, ta nhớ lại lúc còn nhỏ, kiệu của Lục gia đi cửa tiệm, nha hoàn bên kiệu bịt mũi cười, nói một thân đầy mùi khói lửa mà cũng dám bàn chuyện truyền thừa.

Mẹ ta không mắng lại.

Bà chỉ đảo lại mẻ ruốc thịt trong , cúi đầu nói với ta: “Chiếu Ninh, hỏa hầu đến rồi, đừng để nó cháy.”

Có những trộm lấy ngọn lửa, mà vẫn còn chê đôi bàn tay người đốt lửa bẩn thỉu.

“Trước khi lâm chung, bà ấy vẫn nhớ tới tờ đồ đó.” Cha ta nói, “Bà ấy nói trên đồ có một vệt đèn dầu cháy xém, là do con hồi ba tuổi làm đổ đèn đêm hôm lửa phải. Chỉ cần vệt đó còn đó, không ai có thể nói đó không phải của bà.”

Ta ngẩng đầu: “Sau này mẹ còn đi đòi lại không?”

“Đi ba lần.” Khóe cha ta đỏ hoe, “Lần ba, bà ấy đang bệnh mà vẫn đi, về đến nơi là phát sốt cao.”

Ánh lửa trong phòng chao đảo.

Ta bọc xấp giấy lại lần nữa.

Chuyện Chu Nghiễn trộm mất Thuyền Cung Phổ mới mẻ.

Lục gia sớm đã biết lửa bếp của Thẩm gia đáng giá.

Chu Nghiễn cũng biết.

Chàng ở phòng sổ Thẩm gia suốt hai năm, đã thấy thuyền hộ cầm bài hộ cũ đến nhận hàng, đã thấy cha ta dậy từ nửa đêm đỏ lửa, đã thấy ta ghi chép riêng ngày niêm vò và ngày lên thuyền của mỗi mẻ ruốc.

Chàng không phải không hiểu.

Chàng là quá hiểu.

Cho nên chàng không trộm tiền bạc.

Chàng trộm bí kíp.

“Cha.” Ta buộc chặt bọc vải, “Sổ nợ cũ còn đó chứ?”

Ông nhìn ta: “Con định làm ?”

“Điều tra.”

“Chiếu Ninh, Lục gia không phải Chu gia. Họ môn vọng tộc, quan hệ sâu rộng.”

“Con biết.”

Ta đứng dậy đi vào bếp, cầm lấy miếng bài hộ đã cũ treo trên tường.

Mặt sau miếng gỗ khắc chữ Thẩm, nét đao rất mảnh, là thủ pháp của mẹ ta.

Ta thu miếng bài hộ lại.

“Cha, ngày mai con đi Song Phụng.”

“Lục gia đã trộm những , ắt sẽ có người nhớ rõ.”

05

Ngày ta đi Song Phụng, Lưu Gia lất phất mưa nhỏ.

Mưa không lớn, rơi trên mái ngói rì rào, tựa như có ai đó đang lật mở từng trang sổ cũ. Ta không ngồi xe, chỉ mang theo miếng bài hộ cũ và xấp giấy nát mẹ để lại.

Trên tờ giấy nát ngoài vệt cháy xém, còn có một vết mực cực nhạt.

Người thường không nhìn ra, nhưng ta lại nhận biết được.

Đó không phải giọt mực, mà là vết cũ để lại sau khi vết mỡ canh dê bắn vào giấy. Bếp họ Thẩm không dùng canh dê, thuyền hộ Lưu Gia cũng hiếm khi ăn dê trong tiệm.

Nơi có thể mang theo bản đồ thuyền cung tới, chỉ có thể là quán già ở Song Phụng — nơi mẹ ta năm xưa thường đến để ghi chép khẩu vị của các thuyền hộ.

Nơi đó không cách cảng quá xa, mặt tiền không lớn, biển hiệu bị khói ám đen kịt.

Còn chưa vào cửa, hơi nóng của canh thịt dê đã ùa vào mặt. Trên bếp, lớn đang sôi sùng sục nước dùng trắng đục, bà chủ một tay vớt , một tay rắc hành, mu bàn tay đầy những vết chai do nước dùng nóng bỏng tạo thành.

Vài bàn gỗ cũ bên cửa sổ, mặt bàn bị các thuyền hộ khắc chữ, có số hiệu thuyền, có ngày về, cũng có cả những câu chửi thề nửa chừng.

Ta đứng ở cửa.

Bà chủ ngước nhìn ta một cái, động tác khựng lại trong tích tắc.

“Con gái họ Thẩm?”

bà thô, không mềm mỏng như Lục Thanh, nhưng nghe rất vững chãi.

Ta gật đầu: “Mẹ con, Thẩm Đường, bà còn nhớ không?”

Bà gác muôi thủng lên thành .

“Những ăn cơm thuyền ở Lưu Gia này, ai dám bảo không nhớ bà ấy.”

Vài thuyền hộ đang ăn trong quán ngẩng đầu lên. Có người nhìn ta, có người cúi đầu tiếp tục húp canh, canh che đi sự không tự nhiên trên mặt.

Chuyện tháo đèn đã sớm theo gió thổi tới Song Phụng.

Ta không giải thích, chỉ miếng bài hộ lên bàn.

“Con muốn tra sổ cũ.”

Bà chủ nhìn chằm chằm miếng bài đó, hồi lâu không đáp ngay.

Bà chỉ hỏi: “Cái mà năm xưa mẹ con còn đòi lại được, một cô nương như con, lấy mà đòi?”

Ta nhìn bà: “Lấy sổ , lấy bài hộ , và lấy cả điệu cũ mà họ tưởng rằng đã còn ai nhớ nữa.”

Ánh bà chủ động đậy.

Bà xoay người vào bếp sau.

Lúc trở ra, tay bà ôm một cuốn sổ dày cộp. Bìa sổ cũ đến mức xơ xác, các được vá bằng vải xanh. Bà cuốn sổ trước mặt ta, không vội lật mở, chỉ hỏi: “Cha con vẫn khỏe chứ?”

“Vẫn đang bệnh ạ.”

“Nên bệnh.” Bà thở dài, “Chuyện năm đó của mẹ con, Thẩm đã nhẫn nhịn ngần ấy năm, uất nghẹn không thoát ra từ miệng thì cũng mục ruỗng từ trong xương.”

Ta lật mở cuốn sổ cũ.

Bên trong không phải tiền thông thường.

Tháng nọ năm kia, nợ ba đấu gạo, cho chị dâu bị bệnh trên thuyền Trần Tam.

Ngày nọ, nợ hai mươi , cho quyến thuộc của thuyền chưa về kịp khi gió Đông nổi.

Lại một trang ghi: Hai sọt khoai sọ lông mới, Thẩm Đường lấy, phối với dược thiện canh dê, cho thuyền hộ dạ dày sau khi viễn dương về cảng.

Nét chữ một nửa là của bà chủ, một nửa là của mẹ ta.

“Mẹ con thường tới đây sao?” Ta hỏi.

Bà chủ đẩy một thịt dê đến trước mặt ta: “Bà ấy không thích mùi gây của thịt dê, nhưng lại thường ngồi ở bếp sau. Thuyền hộ bạt mạng, lúc ăn canh nóng là lúc nói nhiều nhất. Bà ấy cứ ngồi đó nghe, ghi xem thuyền ai khoang bị ẩm, ai người già không nhai được bánh cứng, ai trước khi lên thuyền bị chứng ợ chua.”

Ta cúi đầu nhìn .

Nước canh trắng, hành xanh, thịt dê thái mỏng. Hơi nóng bốc lên, khiến các trang sổ cũ hơi quăn lại.

quán, một thuyền hộ ho lên một tiếng.

Ông đã rất già rồi, tóc bạc trắng, nhưng ngón tay thô cứng, trong móng tay còn giấu những bụi dây thừng rửa không sạch. Ông , không nhìn ta, chỉ nhìn màn mưa ngoài cửa, thấp một câu.

“Gió Đông Nam nổi chớ tham ngủ, đầu sóng trắng, buồm về xa…”

Điệu rất cũ, không tròn trịa, cũng phong nhã.

Giống như tiếng gỗ ép ra khi ván thuyền bị sóng vỗ đã lâu.

Ta nghe đến đoạn chuyển âm ba, ngón tay nhấn chặt vào trang sổ.

Lục Thanh lúc phát cháo ở Thiên Phi cung từng gảy một khúc tơ trúc Giang Nam. Khúc nhạc thanh , người bên cạnh đều khen là phong nhã. Ta cũng từng nghe , lúc đó chỉ thấy quen tai nhưng không nói được là quen ở đâu.

Giờ đây, nó đã lộ ra khung xương nguyên thủy của mình.

ta đã tẩy rửa điệu cũ này quá sạch sẽ, tẩy đi hạt cát trong cổ họng thuyền hộ, cũng tẩy đi mùi tanh trong nước triều. còn lại có thể vào sảnh đường Lục gia, có thể cho quan quyến nghe, nhưng không còn giống bài ca của người mong buồm về nữa.

Bà chủ nhìn ta: “Nghe ra rồi?”

Ta gật đầu.

“Điệu này là do mẹ con chỉnh lý. Không phải để cho hay, mà là để người ra khơi nhớ gió, nhớ triều, nhớ ngày về. Ngày nào triều dâng, ngày nào lánh gió, chỗ nào nước xiết, thuyền hộ không biết chữ thì cứ dựa vào điệu mà nhớ.”

thuyền hộ không , bỗng nói:

“Lục gia nghe là khúc nhạc.”

“Mẹ cô nghe là cách chúng tôi sống sót.”

Tim ta như bị đó đâm nhẹ một nhát.

Ta lật ra phía sau.

Quả nhiên có vài trang không phải sổ nợ, mà là điệu nhạc. Bên cạnh chữ có vẽ những thuyền nhỏ, còn ghi chú: “Không được đổi nhanh”, “Chỗ này kéo dài hơi, để nhớ nước triều hồi”.

“Quy Phàm Cựu Điều (Điệu cũ mong buồm về).” Bà chủ nói, “Mẹ con gọi thế.”

Đầu ngón tay ta dừng lại trên bốn chữ đó.

Lưu ý: Thế giới và các tình tiết trong truyện là sản phẩm của trí tưởng tượng, đã được lý tưởng hóa nhằm phục vụ mục đích sáng tạo. Mọi sự trùng hợp với thực tế chỉ là ngẫu nhiên, không mang giá trị nghiên cứu hay đối chiếu.