Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và MỞ ỨNG DỤNG SHOPEE để mở khóa toàn bộ chương truyện.

https://s.shopee.vn/4AwW32dbWd

Nước Giặt TopGia 3in1 Hương Huyền Diệu, Lavender Dịu Nhẹ Làm Sạch Vết Bẩn, Lưu Hương 72h, Túi 2L

Nội dung trên chỉ xuất hiện 1 lần trong ngày, mong Quý độc giả ủng hộ.

Mỗi click là một lời cổ vũ để Sen mang đến nhiều câu chuyện hấp dẫn hơn nữa!

4

***

Từ ngày hôm đó, “Thứ Sáu gặp Thẩm Trục Dã” đã trở thành một cột mốc cố định và nổi bật trong cuộc sống của tôi.

Miệng anh thì cứ nói là đối khớp tiến độ giữa hai bên A – B, nhưng tế, mỗi tuần anh đều mượn cớ đẩy cái giới hạn “đối khớp” này sang hướng “việc tư”.

Tuần thứ hai, anh trực tiếp chuyển địa điểm làm việc từ tòa nhà văn phòng của Văn hóa Trục Dã sang khu nhà kho bến tàu cũ đang thi công.

Hiện trường xi măng chưa khô, bụi bay mù mịt. Anh đội mũ bảo hộ, tóc mái bết mồ hôi dính trước trán, chiếc áo phông xám đậm dính một mảng lớn bụi vữa trắng xóa, thoạt nhìn chẳng giống vị tổng tài ngồi văn phòng chút nào.

Anh trải phẳng bản vẽ chi tiết của tôi trên một chiếc thùng gỗ cũ, khớp ngón tay gõ gõ lên một bản vẽ kết cấu trong tiếng ồn ào của công trường, nghiêng đầu nói với tôi: “Mái vòm của phòng triển lãm ánh sáng này, em phải để ánh nắng chiếu trực tiếp vào bục trưng bày trung tâm, chứ không phải chiếu lên đỉnh đầu người tham quan. Độ lệch của điểm rơi ánh sáng không được vượt quá 20 centimet, nếu không trọng tâm của toàn bộ không gian sẽ bị lệch.”

Nói , anh liếc nhìn tôi một cái, đuôi mắt hơi cong lên, bồi thêm một câu: “Tường gạch ở đây chưa trát bả đâu, tối về nhớ rửa mặt cho kỹ. Trên mũi dính bụi rồi kìa.”

Tôi phản xạ có điều kiện đưa tay quệt mũi, anh bật cười thành tiếng. Đội trưởng thi công đứng cạnh đó liếc nhìn hai chúng tôi một cái, rồi lập tức quay mặt đi, giả vờ như đang soi đường ống trên trần nhà.

Tuần thứ ba, rơi vào kỳ nghỉ Quốc khánh, tôi những tưởng có thể nghỉ ngơi một chút.

Kết quả, 10 giờ sáng mùng một, tôi bị điện thoại rung làm cho tỉnh giấc. Vừa mở màn hình lên đã thấy tin nhắn Thẩm Trục Dã gửi từ lúc 4 giờ rưỡi sáng.

Không phải công việc, mà là một đen trắng cũ, chụp cảnh công nhân bến tàu thập niên 70 đang ngồi xổm ăn trưa bên bờ sông.

Bên dưới đính kèm một câu: 【Người thứ ba bên trong này là ông ngoại tôi. Năm 16 tuổi ông đã đi vác hàng ở bến tàu, vác suốt 20 năm. Trong phương án này của em có nói sẽ làm thiết bị âm thanh tiếng hò dô của công nhân già, em có thể để lại một vị trí để in dấu tay ông ngoại tôi trên tường triển lãm được không? Không phải đang trách cứ em, mà là đang cầu xin em.】

Anh dùng hai chữ “cầu xin”. Cái người chưa từng buông tay nhượng bộ trên bàn đàm phán, người luôn chỉ trích chính xác từng tử huyệt lúc sửa bản mà không nể nang như Thẩm Trục Dã, lại nhắn tin cho tôi lúc 4 giờ rưỡi sáng, dùng chữ “cầu”.

Tôi ôm điện thoại ngồi ngây ngốc trên giường, một lúc lâu sau mới đáp: 【 thường ông ngoại vác hàng bằng tay nào?】

Anh rep lại ngay tắp lự: 【Tay phải. Chỗ hổ khẩu (kẽ ngón tay cái và trỏ) có một vết chai, dày như vỏ cây.】

Tôi nói: 【Được. Em sẽ đúc một dấu tay phải của ông bằng đồng gắn trên tường triển lãm, bên cạnh sẽ khắc ông.】

Anh im lặng rất lâu, rồi chỉ đáp lại một chữ: 【Ừ.】

Chỉ một chữ. Nhưng cái chữ “Ừ” đó rơi vào khung chat của tôi, lại nặng tựa ngàn cân, hơn cứ lời cảm ơn dài dòng nào.

Tuần thứ tư, anh dẫn tôi đi dự cuộc họp tổng kết quý của Văn hóa Trục Dã.

Nói là họp tổng kết, chất là toàn bộ đội ngũ ngồi quanh bàn dài lần lượt rà soát tiến độ dự án. Còn tôi, danh chính ngôn thuận ngồi cạnh anh để luận về vấn đề luồng di chuyển của một điểm nút quan trọng.

Tất cả mọi người trong phòng họp đều đổ dồn mắt nhìn chúng tôi, còn anh thì ghé sát vào màn hình máy tính của tôi, hơi nghiêng người, mặt cách mặt tôi chưa đến 20 phân. Những ngón tay thon dài gõ gõ vào một góc màn hình: “Khoảng không gian chuyển tiếp này em định làm gì?” Hơi thở của anh lướt qua vành tôi, sống lưng tôi căng như dây đàn nhưng lại không nỡ né tránh.

Mùi hương trên người anh rất nhạt, không phải mùi nước hoa, mà giống như mùi thơm thoang thoảng của nước giặt xả, lại giống như cái mùi sạch sẽ, ấm áp bị hệ thống lò sưởi trong văn phòng hong khô bốc lên.

Tôi thức nín thở, rồi di chuyển con trỏ chuột đến điểm đó để chỉ cho anh xem: “Làm một khu vực nghỉ ngơi bán mở. Dùng gỗ thuyền cũ làm ghế dài, trên tường sẽ phát lại video ghi chép lịch sử truyền miệng của công nhân bến tàu.”

“Được.” Anh thẳng người dậy, cảm lại khôi phục vẻ công tư phân minh của Bên A, nhưng lúc lùi ra, cổ tay anh tình sượt qua ngón tay tôi.

Không phải cố ý, lực lướt nhẹ như một chiếc lá khô chạm vào mu bàn tay, nhưng lại khiến tim tôi lỡ mất một nhịp.

Cuộc họp kết thúc, tôi đuổi theo chặn anh ở cửa khu vực thang máy. Những người khác đều đã vào thang máy hết, chỉ còn tôi và anh đứng lại trên hành lang. Tôi hạ giọng hỏi anh: “Thẩm Trục Dã, lúc nãy anh có phải là cố ý không?”

“Cố ý chuyện gì?” Anh biết rõ còn cố hỏi, đường vòng cung cong lên nơi khóe mắt khiến tôi chỉ muốn đấm cho một cái.

“Anh tự biết.”

“Tôi đang xem bản , không để ý.” Anh bước lướt qua tôi, đi được hai ba bước lại khựng lại, quay đầu bổ sung thêm một câu: “Nhưng cái khoảnh khắc em lùi lại né tránh thì tôi có để ý đấy.”

Tôi tức muốn bẻ đôi chiếc bút cảm ứng trong tay.

Tuần thứ năm, hạn chót để bàn giao bản cuối cùng cận kề. Toàn bộ nhóm dự án của Văn hóa Trục Dã và công ty tôi cộng lại gần ba mươi người, điên cuồng tăng ca.

Tôi đã ba ngày chưa về nhà, ngủ trên chiếc giường gấp của bộ phận thiết kế, dùng cà phê để duy trì mạng sống. An An đến mang cơm cho tôi hai bữa, đều bị tôi dùng chung một lý do để đuổi đi: “Tớ đang bận lắm, đừng làm phiền tớ.”

Rạng sáng ngày thứ tư, khi tôi đang chỉnh màu lần cuối cho bản thiết kế phối cảnh trên màn hình, điện thoại chợt sáng lên. Thẩm Trục Dã nhắn tin: 【Tôi đang ở dưới lầu công ty em.】

Tôi chạy vội ra cửa sổ nhìn xuống.

12 rưỡi đêm, cạnh ngọn đèn đường dưới lầu công ty đậu một chiếc Porsche màu xám đậm nhám mờ, thân xe lấp lánh thứ ánh sáng đầy khiêm tốn dưới ánh đèn trắng lạnh.

Thẩm Trục Dã mặc một chiếc áo khoác măng tô màu xám khói đứng cạnh xe, quàng chiếc khăn len màu xanh lục sẫm, tôn lên làn da lạnh lẽo của anh trong màn đêm. Tay anh xách cốc sữa đậu nành, tay phải cầm một chiếc túi giấy kraft, đang ngẩng đầu nhìn về phía cửa sổ văn phòng tôi.

Tôi phi như bay xuống lầu.

“Sao anh lại đến đây?” Tôi thở hồng hộc chạy đến trước mặt anh.

“Tiện đường.” Anh nói.

“12 rưỡi đêm mà anh tiện đường đi qua dưới lầu công ty tôi á?”

“Thì tiện đường.” Anh nhét cốc sữa đậu nành vào tay tôi, liếc nhìn quầng thâm dưới mắt tôi, hơi nhíu mày: “Mấy ngày nay em ngủ được mấy tiếng rồi?”

“Cộng lại chắc được… mười tiếng?” Tôi thành thật trả lời.

Anh không nói gì, chỉ nhét nốt chiếc túi giấy vào tay tôi.

Bên trong túi giấy là những chiếc bánh bao nhỏ (tiểu long bao), khi mở ra hơi nóng bốc lên ngùn ngụt, mùi thơm xộc thẳng vào mũi.

Tôi cắn một miếng là biết ngay của tiệm nào, là quán cũ cạnh cổng trường mà hồi cấp ba chúng tôi hay ăn, vỏ mỏng nhiều nước, nhân thịt tươi ngon.

Tiệm đó 6 giờ sáng mở cửa, 9 giờ tối đã đóng cửa, căn bản không thể mua được lúc 12 rưỡi đêm thế này.

“Bánh bao này…”

“Ông chủ là bố của bạn tôi,” anh hờ hững nói, “Đã gọi điện nhờ người ta mở cửa hấp cho một lồng.”

Ngón tay đang cầm cốc sữa đậu nành của tôi khẽ siết lại, chiếc cốc giấy bị bóp lõm một vết mờ mờ.

12 rưỡi đêm, anh gọi điện thức một người già, chỉ để hấp cho tôi một lồng bánh bao.

Thế nhưng vẻ mặt của anh như thể chuyện này chẳng có gì to tát, cứ như kỳ người thường nào cũng sẽ làm vậy.

“Anh không cần phải…”

“Cần chứ.” Anh ngắt lời tôi, giọng nói chợt trở nên rất nghiêm túc.

Ánh đèn đường hắt lại từ phía sau lưng anh, một nửa khuôn mặt anh chìm trong bóng tối, nhưng đôi mắt ấy lại sáng ngời đến kinh ngạc, “Ôn Hạ, tôi sẽ không so đo với em quá nhiều về mấy chuyện chi tiết đâu.

Những lời nợ em trước kia, không có cách nào bù đắp được. Nhưng bắt đầu từ giờ, dự án này em liều mạng gánh vác, thì tôi sẽ làm tốt khâu hậu cần. Em chịu trách nhiệm thiết kế, tôi chịu trách nhiệm vỗ béo em.”

Anh gom lại chiếc khăn quàng cổ trong gió đêm, rồi mở cửa xe bước lên. Đèn xe sáng lên, anh hạ cửa sổ xuống, ném lại câu cuối cùng.

“Bánh bao ăn lúc còn nóng đi. Ngày mai chốt bản cuối, đừng đến muộn.”

Sau đó đạp ga, ánh đèn hậu hòa vào màn đêm u tối rồi biến mất.

Tôi đứng trong cơn gió lạnh dưới lầu công ty, tay nắm chặt cốc sữa đậu nành ấm áp và túi bánh bao vượt gian đóng cửa mới mua được, khóe mắt đột nhiên cay cay.

Không phải vì mệt, mà là vì cảm giác được đó quan tâm đến thế, quan tâm đến mức gọi điện thoại lúc nửa đêm nhờ người nhóm lửa hấp bánh bao, mà người đó lại tình cờ là Thẩm Trục Dã.

Điện thoại tôi lại rung lên.

Trong nhóm chị em, An An gửi một tin nhắn, là chụp màn hình bài đăng trên vòng bạn bè WeChat của Thẩm Trục Dã.

Tôi bấm vào xem, thấy lúc hơn 9 giờ tối, Thẩm Trục Dã đăng một status, định vị là phòng tiệc của một khách sạn ở Lâm Thành bên cạnh, kèm dòng trạng thái: “Tham gia hội nghị chuyên ngành, tối phải chạy về gấp.”

9 giờ tối anh vẫn đang dự hội nghị ở Lâm Thành, 12 rưỡi đêm anh xuất hiện dưới lầu công ty tôi, tay xách lồng tiểu long bao vừa mới ra lò.

Từ Lâm Thành đi tốc về Phụng Thành nhanh nhất cũng phải mất gần hai tiếng.

Tức là, vừa tan họp anh đã phi thẳng ra bãi đỗ xe, lái xe hai tiếng về Phụng Thành, xuống tốc là đi gõ cửa tiệm bánh bao trước, rồi mới đến công ty tôi.

Anh gọi cái này là “Tiện đường”.

Tôi tắt chụp màn hình, ngồi thụp xuống rìa bồn hoa dưới lầu, vùi mặt vào đầu gối, cười lặng lẽ.

Ôn Hạ, mày đời rồi. Mày thích một người tận hai lần, lần thứ nhất mất hai năm, lần thứ hai chỉ mất có bốn tuần. Hơn nữa lại còn là cùng một người. Đúng là hết thuốc chữa.

***

Giữa Mười một, bản cuối cùng chính thức được bàn giao.

Phía Văn hóa Trục Dã đã tổ cuộc họp giá lần cuối, quy mô lớn hơn kỳ lần nào trước đây. Ngoài nhóm nòng cốt nội bộ của họ, còn có sự góp mặt của phòng quy hoạch chính quyền và một vài chuyên gia.

Trong phòng họp có gần hai mươi người, ghế hai bên bàn dài chật kín, phía sau còn kê thêm một dãy ghế xếp.

Tôi đứng trước màn hình máy chiếu, lật qua trang slide cuối cùng. Căn phòng im phăng phắc trọn vẹn 5 giây.

Rồi một vị chuyên gia tóc hoa râm đi đầu tháo kính xuống, nói một câu: “Đây mới đúng là dự án văn hóa sáng tạo mà Phụng Thành nên có.”

Khoảnh khắc tiếng vỗ tay vang lên, người đầu tiên tôi nhìn không phải là sếp Lâm, không phải là chuyên gia, mà là Thẩm Trục Dã đang ngồi ở cuối bàn dài.

Anh đang vỗ tay.

Hai tay đan vào nhau, không nhanh không chậm, nhưng tôi thấy độ cong khóe miệng anh không giống thường. Không phải là nụ cười tiêu chuẩn trong thương trường, mà là một sự tự hào sự.

Không phải tự hào vì dự án, mà là vì tôi.

Cuộc họp giá kết thúc, trong khi những người khác đang chúc rượu, trao đổi danh thiếp, Thẩm Trục Dã xuyên qua đám đông đi đến trước mặt tôi.

Hiếm khi anh không mặc bộ vest trang trọng đó, mà đổi sang một chiếc áo len cashmere màu xanh đậm. Chất vải mềm mại khiến cả con người anh dịu đi rất nhiều.

“Đi, ra ngoài hóng gió chút.” Anh nói.

Tôi theo anh rời khỏi phòng họp, đi dọc hành lang đến ban công ở cuối dãy. Gió trên ban công rất lớn, gió sông thổi tung tóc tạt hết vào mặt tôi.

Thẩm Trục Dã tựa người vào lan can, đằng trên mặt sông có một chiếc tàu chở hàng chầm chậm lướt qua, tiếng còi tàu vang lên trầm đục ngân vang.

“Ôn Hạ, bản thiết kế cuối cùng đã thông qua rồi. Phương án của em chính thức được triển khai.” Anh nói, không nhìn tôi, ánh mắt đặt trên mặt sông đằng .

“Vâng, cuối cùng cũng qua rồi.” Tôi đứng cạnh anh, hai tay bám vào lan can, “Cảm ơn những ý kiến đóng góp của anh gian qua, giúp tôi rất nhiều.”

“Không cần cảm ơn. Chúng ta là Bên A và Bên B mà.” Anh ngập ngừng một chút, rồi quay sang nhìn tôi. Trong đôi mắt ấy có sự phản chiếu của mặt sông, và cả một thứ gì đó khác đang lấp lánh, “ giờ nói chuyện công rồi, bàn chút chuyện tư đi.”

Tim tôi “thịch” một cái.

“Từ lần đầu tiên tôi đợi em dưới lầu đến giờ, đã sáu tuần trôi qua rồi.”

Anh quay người lại, đối mặt với tôi, hơi cúi đầu xuống, thu hẹp khoảng cách giữa hai người, “Tôi vẫn luôn đợi em chủ động mở lời. Nhưng em lì lợm hơn tôi tưởng. Chuyện công thì em bàn đâu ra đấy, chuyện tư thì cấm nhắc lấy nửa lời.”

“Tôi…”

“Được, em không nhắc, tôi nhắc.” Anh ngắt lời tôi, giọng điệu vẫn là cái điệu bộ nhẹ bẫng tựa mây bay gió thoảng, nhưng nếu nghe kỹ, sẽ nhận ra âm cuối của anh mang theo một sự căng thẳng rất khó để phát hiện.

“Ôn Hạ, trong sáu tuần này, tôi đã cho em số cơ hội để đẩy tôi ra. Em có thể từ chối lúc tôi đến công ty em lần đầu, có thể yêu cầu đổi người phụ trách ở lần khớp tiến độ thứ hai, có thể bảo tôi đừng đến

nữa khi tôi mang bánh bao cho em lúc nửa đêm. Nhưng em không làm vậy.”

Anh bước lên một bước, khoảng cách gần đến mức tôi phải ngẩng đầu lên mới nhìn thấy mặt anh.

“Em không đẩy tôi ra. Vậy giờ tôi phải hỏi em rồi. Đây là ngầm đồng ý sao?”

Gió sông thổi rối tung mái tóc anh, vài lọn tóc mái phất phơ trước trán hơi lay động.

Trong đôi mắt anh phản chiếu ánh đèn li ti của thành phố bên kia bờ sông, và cả hình dáng cứng đờ của tôi.

Tôi há miệng, phát hiện mình không biết nói gì nữa. Toàn bộ khả năng tổ ngôn ngữ đã hoàn toàn đình công vào khoảnh khắc này.

Rồi anh bỗng bật cười.

Trong nụ cười ấy có một chút lực, một chút tự giễu, nhưng nhiều hơn cả là một sự dịu dàng đầy kiên định.

“Thôi bỏ đi, hôm nay em khoan hãy trả lời. Lần gặp tới, tôi sẽ tiếp tục hỏi em.” Anh nói, “Cho đến khi em chịu nói sự thật mới thôi.”

Nói , anh quay lưng đi vào trong nhà, để lại một mình tôi trên ban công.

Gió sông Mười một thổi qua, lạnh đến mức tôi rùng mình một cái. Nhưng hơi nóng trên mặt tôi mãi vẫn chẳng hạ xuống nổi.

***

Mười hai, Phụng Thành chính thức bước vào mùa đông.

Dự án chuyển sang giai đoạn thi công, tần suất khớp tiến độ tại hiện trường từ mỗi tuần một lần chuyển thành mỗi ngày một lần.

Thẩm Trục Dã vẫn đến mỗi ngày. Có lúc mặc vest bước thẳng từ cuộc họp khác sang, có lúc đã thay bộ bảo hộ lao động, đội mũ bảo hộ cùng tôi leo giàn giáo.

Hôm đó là ngày 14 Mười hai, thứ Bảy, sinh nhật tôi.

Sáng thức dậy, điện thoại tràn ngập tin nhắn chúc mừng. An An gửi một cái lì xì to đùng, kèm theo lời nhắn: “Chúc Ôn Tiểu Hạ nhà ta sớm ngày thoát ế.”

Mẹ tôi gọi hai cuộc tôi không nghe máy, đến cuộc thứ ba thì bắt máy. Bà hỏi đầu dây bên kia xem tôi có ăn uống đàng hoàng không, có tìm được đối tượng chưa, sinh nhật định tổ thế nào. Tôi ậm ừ qua loa vài câu, rồi ra khỏi giường răng rửa mặt.

Chuông cửa vang lên.

Mở cửa ra, trước mặt là một bó hoa hướng dương vàng rực rỡ, trên bó hoa đính một tấm thiệp. Trên thiệp là nét chữ nắn nót mạnh mẽ của Thẩm Trục Dã:

【Ngôn ngữ của hoa hướng dương là: Em là ánh sáng mà anh mãi mãi theo đuổi. — Thẩm Trục Dã】

Tôi ôm bó hoa, cúi đầu lật đi lật lại xem hồi lâu, rồi nhắn tin cho Thẩm Trục Dã: 【Đã nhận được hoa, cảm ơn anh.】

Anh trả lời ngay trong tích tắc: 【Mở cửa ra.】

Tôi sững lại, bước vội đến bên cửa sổ nhìn xuống dưới.

Xe của anh đậu dưới lầu, người đang tựa vào cửa sau xe, mặc chiếc áo măng tô dài màu xám đậm, quàng chiếc khăn len màu xanh lục sẫm, y hệt cái màu mà lần trước tôi từng bảo là “đẹp”.

Anh ngẩng lên thấy tôi, khẽ vẫy tay.

Tôi vội vàng thay quần áo rồi chạy xuống lầu.

Không khí lạnh lẽo của buổi sáng Mười hai ùa vào mặt, vì vội quá nên tôi không kịp quàng khăn, cổ bị gió thổi lạnh buốt, nhưng lồng ngực thì lại nóng ran.

“Sao anh lại tới đây? Hôm nay không phải thứ Bảy sao?” Tôi đứng trước mặt anh, thở hổn hển.

Anh mỉm cười, rút tay ra khỏi túi áo khoác, giúp tôi vén lại những lọn tóc bị gió thổi tung.

Đầu ngón tay anh mang theo hơi lạnh ngoài trời, không nhanh không chậm vuốt những lọn tóc lòa xòa nơi khóe miệng tôi ra sau , phần đệm ngón tay khẽ cọ qua gò má tôi. “Muốn là người đầu tiên nói với em.”

“Nói gì cơ?”

“Chúc mừng sinh nhật, Ôn Hạ.” Hơi thở trắng xóa phả ra khi anh nói phả vào mặt tôi, đôi mắt ấy khẽ cong lên, bên trong toàn là hình bóng tôi.

Tôi cúi đầu nhìn mũi giày mình, đột nhiên không biết nói gì.

Anh đối xử với tôi càng tốt, tôi càng không biết phải đáp lại ra sao. Tôi sau khi tôi đáp lại, anh sẽ đẩy tôi ra giống như năm năm trước.

Cái gai trong lòng tôi vẫn còn đó, dù đã lung lay rồi, nhưng nó vẫn cắm ở đó, thỉnh thoảng lại nhói đau một cái.

“Lên xe đi, hôm nay có lịch rồi.” Anh mở cửa ghế phụ cho tôi.

“Đi đâu cơ?”

“Đến nơi rồi em sẽ biết.”

Nơi anh đưa tôi đến là khu vui chơi giải trí.

Khu lớn nhất ở Phụng Thành, có vòng đu quay, tàu lượn siêu tốc, thuyền hải tặc, và đủ thể loại trò chơi cảm giác mạnh mà hồi bé tôi không dám chơi, lớn lên thì không có gian đi.

Khu vui chơi vào mùa đông rất ít người, trong không khí thoang thoảng mùi bắp rang bơ ngọt lịm và mùi kẹo bông gòn nhè nhẹ.

“Sao lại là khu vui chơi?” Tôi tò mò hỏi anh ở cổng vào.

“Vì điều ước năm sinh nhật 18 tuổi của em là muốn được trải qua một lần sinh nhật ở khu vui chơi.”

Anh nắm tay tôi kéo vào trong, “Hồi đó lúc em nói câu này với An An trong lớp học, tôi tình đi ngang qua nghe thấy.”

Tôi hoàn toàn không nhớ mình đã từng nói câu này.

“Lại là anh đi ngang qua nghe thấy à?”

“Ừ. Rất nhiều chuyện về em, tôi đều nghe được kiểu đó.” Anh ừ một tiếng, giọng điệu thản đến cực điểm.

“Chắc em không biết giọng mình nói to cỡ nào đâu, từng chữ từng chữ chạy tọt vào , không muốn nghe cũng không được. Tiếng em đọc thuộc bài vọng xuống chỗ ngồi của tôi ở dãy bàn sau, tiếng em than vãn bài toán quá khó cũng vọng xuống bàn sau, em muốn đón sinh nhật 18 tuổi thế nào, cũng lại vọng xuống bàn sau.”

Tôi nhìn bóng lưng sải bước thênh thang của anh, thầm nghĩ cái con người này cấp ba rốt cuộc đã lén ghi nhớ bao nhiêu lời tôi nói cơ chứ.

Anh dẫn tôi đi chơi tàu lượn siêu tốc trước.

Tôi nhắm tịt mắt la hét từ đầu đến cuối, hai tay bám chặt lấy cánh tay anh, móng tay chắc bấu cả vào lớp vải tay áo khoác măng tô của anh mất.

Còn anh thì mở mắt suốt toàn bộ hành , cười vang bên cạnh tôi. Cái tiếng cười sảng khoái hòa lẫn trong tiếng rít của tàu lượn siêu tốc ấy, là điệu cười không hề mang gánh nặng mà tôi chưa từng được nghe.

Lúc lao xuống từ điểm nhất anh còn hét lên một câu, tôi không nghe rõ, gió to quá thổi bít cả hai tôi lại rồi.

Lúc xuống xe, tôi bám vào lan can thở dốc. Anh tiến đến từ phía sau, quàng một chiếc khăn len cashmere mềm mại lên cổ tôi.

“Lúc nãy ở trên nhất anh hét cái gì thế?” Tôi hỏi anh.

“Có hét gì đâu.” Anh chỉnh lại khăn cho ngay ngắn, vỗ vai tôi, “Tiếp theo còn nhà ma nữa, em dám đi không?”

“Chẳng phải anh ma sao?” Tôi nhớ lại chuyện hồi cấp ba trường tổ xem phim kinh dị, Thẩm Trục Dã cúi gằm mặt vờ buộc dây giày từ đầu đến cuối, nhịn không được phì cười.

“… Hồi cấp ba , giờ không nữa.” Anh nói dối không chớp mắt.

Kết quả là trong nhà ma, tôi bị một mô hình bộ xương nhảy xổ ra từ trong bóng tối dọa cho đâm sầm vào ngực anh. Anh thuận tay đỡ lấy tôi, bật cười trầm thấp trên đỉnh đầu tôi: “Còn bảo tôi ? Em cũng có gan dạ gì đâu?”

Tôi đẩy anh ra đi nhanh về phía trước, nhưng chưa được 5 bước anh đã đuổi kịp, sau đó tay tôi bị anh nắm chặt nhét gọn trong lòng bàn tay.

Cuối cùng anh dẫn tôi đến chơi vòng đu quay khổng lồ.

Khi vòng quay lên tới điểm nhất, toàn cảnh Phụng Thành thu trọn vào tầm mắt.

Mặt trời đang từ từ lặn xuống rặng núi phía Tây, ánh sáng đỏ cam nhuộm mặt sông thành một dải gấm vóc trải dài.

Quần thể nhà kho bến tàu cũ, quảng trường ven sông mới xây, khu phố văn hóa sáng tạo đang thi công ở đằng … tất cả đều được bao phủ bởi ánh hoàng hôn vàng rực rỡ này.

“Ôn Hạ, em còn nhớ bảo tàng ký ức đô thị em thiết kế không?” Anh đột ngột lên tiếng, giọng nói vang lên rõ mồn một trong cabin kín kẽ.

“Nhớ chứ, đó là điểm nút khó nhất trong phương án của tôi mà, sửa đi sửa lại năm sáu bận anh mới chịu ký duyệt.”

“Trong bảo tàng đó, em có chừa lại nguyên một tường trống ở cuối cùng, bảo là chưa nghĩ ra nên làm gì.” Anh quay đầu nhìn tôi, trong mắt phản chiếu ánh hoàng hôn và ráng chiều rực rỡ ngoài cửa sổ,

“Tôi nghĩ ra nên làm gì rồi.”

“Làm gì?”

“Làm một ‘ tường tình thư đô thị’.” Anh tựa lưng vào ghế, nghiêng đầu nhìn tôi, giọng nói nhạt nhẽo như thể thuận miệng nhắc tới, “Để mỗi người đến tham quan đều có thể viết một câu lên đó, viết cho thành phố này, hoặc viết cho người mình thích.”

Cabin từ từ hạ xuống trong ánh chiều tà. Trên mặt sông , một con tàu chở hàng kéo còi, âm thanh trầm đục, vang lên như một tiếng tù và cất vọng.

Tôi im lặng một lúc, cảm thấy chỉ nhiêu đó thôi là chưa đủ.

“Thêm một thiết bị tương tác nữa đi.” Tôi nói, “ cặp đôi sẽ viết nhau lên một tấm thẻ nhỏ có hình dáng giống như chiếc vé tàu cũ, rồi dùng kìm bấm vé ngày xưa bấm một lỗ, thả vào hộp thu thập trong suốt. Khi dự án hoàn thành, hộp thu thập đầy, tôi có thể khảm những cái đó lên tường ghi danh ở cuối bảo tàng.”

Nghe câu đó, Thẩm Trục Dã im lặng khoảng mười giây.

Sau đó, anh móc từ túi áo khoác trong ra một cuốn sổ tay nhỏ bằng da bò và một cây bút máy ngắn.

Cuốn sổ nhỏ đó có vẻ đã được lật giở rất nhiều lần, phần mép đã hơi sờn cũ.

Anh không mở trang mới, mà xé phần nếp gấp bí mật ở mặt trong bìa sau, lấy ra một chiếc vé tàu cũ được gấp đôi.

Tấm vé đó là một chiếc vé tàu cũ thật sự, chất giấy đã ngả vàng, phần viền hơi giòn, bên trên in chữ “Phụng Thành – Lâm Giang”, dấu ngày đã là chuyện của rất nhiều năm về trước rồi.

Anh kẹp tấm vé tàu nhìn chừng hai giây, rồi cúi đầu, dùng bút máy viết lên mặt sau chiếc vé hai chữ.

Từng nét từng nét, nắn nót và mạnh mẽ.

“Thẩm Trục Dã”. Ngay đằng sau, anh viết tiếp “Ôn Hạ”.

Viết , anh lật chiếc vé lại, để tôi xem hai chữ ở mặt sau đó.

của tôi.

Bộ chấm thủy trong chữ “Ôn” (温) được anh viết hơi to hơn một chút so với nửa còn lại, giống như đang chứa đựng một tâm tư giấu kín nào đó.

Thẩm Trục Dã ngẩng đầu nhìn tôi, đôi mắt nâu sẫm ấy phản chiếu tia sáng cuối cùng của ráng chiều ngoài cửa sổ vòng quay.

“Vậy thì bắt đầu từ chúng ta nhé.” Anh nói.

Hốc mắt tôi đột nhiên nóng ran.

Không phải vì cảm động, mà vì nhìn qua là biết tấm vé tàu này là một món cũ được cất giữ cẩn thận nhiều năm, là thứ anh mang từ nhà đi.

Không phải anh cố tình mang theo để chờ lên vòng đu quay mới lấy ra cho tôi xem – anh vốn không hề biết hôm nay tôi sẽ đưa ra gợi ý đó. Là anh vẫn luôn mang tấm vé tàu này bên mình.

“Thẩm Trục Dã.” Tôi mở miệng, giọng nói hơi bồng bềnh.

“Ừ.”

“Tại sao anh lại luôn mang theo tấm vé tàu cũ này bên người?”

Anh cụp mắt, ngón cái vuốt ve nếp gấp trên viền vé tàu, im lặng khoảng năm giây.

Rồi anh cất giọng, âm thanh rất khẽ, như làm kinh động đến điều gì.

“Nhiều năm trước, khi bố tôi còn sống, có một lần ông mua được vài tấm vé tàu cũ như thế này ở chợ cũ. Tấm vé ông thích nhất chính là tấm này, chuyến Phụng Thành đi Lâm Giang. Ông bảo đây là ký ức thuở nhỏ ông theo ông nội ra bến tàu xem tàu thủy. Về sau ông đưa tấm vé này cho tôi, bảo là sau này nếu gặp được người quan trọng, có thể lấy làm quà tặng.”

Anh ngừng lại một chút.

“Tôi vẫn luôn giữ nó. Hồi cấp ba đã muốn tặng em, nhưng chưa đưa được.”

Anh gập đôi chiếc vé lại một lần nữa, đặt vào tay tôi. Những ngón tay tôi siết chặt mẩu giấy ố vàng ấy, cảm giác như lòng bàn tay mình vừa bị một thứ gì đó làm bỏng rát.

Cabin vòng quay từ từ hạ xuống mặt đất. Khi chúng tôi bước ra khỏi khu vui chơi, trời đã tối mịt.

Trên quảng trường đằng có vài đứa trẻ đang đốt pháo hoa nhỏ, những tia lửa vàng rực từng chùm từng chùm bung nở rồi tan biến trong bầu trời đêm.

“Thẩm Trục Dã.” Tôi dừng bước.

“Ừ.”

“Điều ước năm sinh nhật 18 tuổi của em là được đón sinh nhật ở khu vui chơi, điều này anh đã giúp em hiện rồi. Nhưng hôm đó em còn ước một điều thứ hai nữa…”

Tôi hít một hơi thật sâu cái không khí trong veo lạnh lẽo của Mười hai, tim trong lồng ngực đập dồn dập như trống, “Em ước một ngày nào đó, Thẩm Trục Dã cũng sẽ thích em.”

Anh đứng trước mặt tôi, ánh đèn đường từ phía sau hắt tới, phủ lên vai anh một lớp sáng vàng ấm áp. Lông mày anh hơi giật nhẹ, rồi anh từ từ cong khóe miệng lên.

Ý cười đó lan từ khóe miệng đến đuôi mắt, trải rộng ra khí chất của cả con người anh, giống như ngọn lửa lò sưởi đầu tiên cháy lên trong đêm đông.

“Thế thì cái điều ước đó, chẳng phải tôi đã giúp em hiện từ lâu rồi sao.” Khi anh nói câu này, giọng cực kỳ chậm rãi và trầm thấp, giống như đang nhẹ nhàng vẽ nên một dấu chấm hết cho câu trả lời đã đợi chờ quá lâu.

Sau đó anh hơi cúi người xuống, bàn tay đỡ lấy gáy tôi, cúi đầu hôn tôi.

Đây là lần đầu tiên anh hôn tôi khi tôi trong trạng thái hoàn toàn tỉnh táo. Lực chạm của đôi môi dịu dàng hơn cứ lúc nào, như làm vỡ một món quý giá.

Mùi hương gỗ thông nhạt trên người anh quyện cùng không khí lạnh lẽo của đêm đông tràn vào mọi giác quan của tôi.

Nụ hôn này rất dài, dài đến mức tôi có cảm giác tim mình sắp nhảy khỏi lồng ngực.

Lúc tách ra, anh lùi lại một chút xíu, chóp mũi vẫn chạm chóp mũi tôi, hơi thở vương vấn trên môi tôi, nóng rực và gấp gáp.

“Ôn Hạ, anh thích em. Năm năm trước đã thích em, cho đến hôm nay vẫn thích em.” Ngón cái của anh lướt từ gò má tôi xuống sau , dừng lại ở dái , nhẹ nhàng, chậm rãi vuốt ve, “Bắt đầu từ giờ, anh không làm Bên A của em nữa. Làm bạn trai em.”

Giọng điệu khi anh nói câu này là câu trần thuật, chứ không phải câu hỏi.

Thẩm Trục Dã xưa nay chưa từng trận nào mà không nắm chắc phần thắng, câu trả lời này anh đã đợi 5 năm rồi, chẳng cần đợi tôi gật đầu anh cũng đã biết tỏng câu trả lời.

Tôi kiễng chân, thơm nhẹ lên cằm anh một cái.

“Vậy thì em sẽ thêm một lời cảm ơn đặc biệt vào mục thiết kế của dự án nhé.”

“Cảm ơn ?”

“Cảm ơn Sếp Thẩm của Bên A,” tôi nói, giọng nói bị gió đêm thổi tan rồi lại tụ vào một chỗ, “Cảm ơn anh đã trả lại lá thư tình tuổi mười bảy cho em.”

***

Tuần đầu tiên sau khi chính thức ở bên nhau, mọi sóng yên biển lặng.

Tôi và Thẩm Trục Dã ăn ý quyết định tạm chưa công khai. Dù sao thì dự án vẫn đang trong giai đoạn thi công, Bên A và Bên B yêu nhau đồn ra ngoài nghe cũng không hay ho cho lắm.

Ngay cả An An tôi cũng chưa nói. Dù tôi cảm giác đa phần là cô ấy cũng đoán ra rồi, bởi dạo gần đây tin nhắn trong nhóm chị em toàn ngập tràn mấy cái meme đầy ẩn ý kiểu “Chèo thuyền thành công rồi”, “Người hiểu tự khắc hiểu”, “ đó dạo này sắc mặt tươi tắn gớm nhỉ”.

giá của Thẩm Trục Dã về chuyện này là: “Bạn thân của em thông minh hơn em đấy. Cô ấy nhìn ra từ lâu rồi.”

“Thế anh nghĩ chúng ta còn giấu được bao lâu?”

“Không biết,” anh ngẫm nghĩ một chút, khóe miệng nhếch lên, “Nhưng mà anh không muốn giấu lắm đâu. Chuyện sớm muộn thôi.”

Khi anh nói câu “Anh không muốn giấu lắm”, ngữ điệu rất tùy ý, nhưng tôi thấy tay phải của anh thức sờ vào túi trong của áo vest. Nơi anh thường đựng bút máy và cuốn sổ da bò nhỏ.

Về sau tôi mới biết anh đã bọc tấm vé tàu cũ viết hai đứa bằng một cái vỏ nhựa trong suốt, cất trong chiếc túi đó.

Luôn mang theo bên mình. Đi họp mang theo, đi công tác mang theo, thậm chí đến công trường leo giàn giáo cũng mang theo.

Sang tuần thứ hai, anh làm một chuyện khiến tôi giờ nghĩ lại vẫn đỏ mặt.

Hôm đó là buổi họp giao ban bộ phận định kỳ ngày thứ Hai, Văn hóa Trục Dã và đội ngũ thiết kế của chúng tôi cùng họp bàn về tiến độ.

Thẩm Trục Dã ngồi ở vị trí chủ tọa chiếc bàn dài, ống tay áo sơ mi xắn lên hai nếp, trong tay lật giở danh sách lựa chọn đèn chiếu sáng mà tôi đệ .

Trong phòng họp có mười mấy người, bao gồm sếp Lâm, hai giám đốc cấp của Văn hóa Trục Dã, giám đốc dự án của đơn vị thi công, và vài đại diện của nhà cung cấp vật liệu.

“Nhà thiết kế Ôn, nhiệt độ màu của loại đèn này cô đang để 3000K, nhưng màu tường chủ đạo của phòng triển lãm là màu xám lạnh. đèn 3000K lên sẽ bị ngả vàng, tổng thể phòng triển lãm sẽ tù mù.”

Thẩm Trục Dã ngẩng lên nhìn tôi, giọng điệu đúng chuẩn việc công xử lý theo phép công, “Đổi sang loại 4000K đi, để màu ánh sáng trung tính hơn một chút.”

“Vâng sếp Thẩm, tôi về sẽ điều chỉnh.”

Tôi cúi đầu ghi chú vào sổ, cố gắng giữ nét mặt chuyên nghiệp.

Sau đó anh lại hỏi thêm vài vấn đề về lựa chọn vật liệu, tôi cũng lần lượt trả lời hết.

Nửa sau của cuộc họp, anh liên tục xác nhận mốc gian thi công với giám đốc dự án bên nhà thầu, tôi tranh thủ lúc đó lén liếc anh một cái.

Anh đang nghiêng đầu, dùng đầu bút chỉ vào một con số trên bảng tiến độ, từng khoản từng khoản khớp lại phương án thi công xen kẽ với giám đốc dự án. Góc nghiêng của anh dưới ánh đèn trong phòng đặc biệt lạnh lùng sắc bén, xương hàm căng cứng, ánh mắt tập trung và nhạy bén.

Thẩm Trục Dã trong trạng thái này hoàn toàn khác biệt với Thẩm Trục Dã đã giúp tôi quàng khăn ở khu vui chơi, hay người đã cúi đầu viết tôi lên tấm vé tàu cũ trong vòng đu quay.

Và rồi tôi để ý thấy ở gốc ngón áp út tay của anh có thêm một chiếc nhẫn bạc.

Chiếc nhẫn đó sáng nay tôi cũng vừa thấy. Trước gương. Hôm qua anh lén nhét vào túi xách của tôi, một cặp nhẫn trơn, chẳng có hoa văn gì cả, mặt trong có khắc một dòng chữ viết tắt rất nhỏ: T.T.D & Ô.H.  (Thẩm Trục Dã & Ôn Hạ).

Anh bảo, không công khai là một chuyện, nhưng thì vẫn phải đeo. Thiết kế của Bên B không thể phô trương ân ái, nhưng đeo chiếc nhẫn thì có phạm pháp đâu chứ.

Cuộc họp lúc này tôi chưa tháo, của anh cũng không tháo.

“À này, sếp Thẩm,” Một đại diện nhà cung cấp vật liệu bên cạnh đột nhiên cười hỏi một câu, “Nhẫn này sếp mới mua à? Trước đây hình như chưa thấy sếp đeo bao giờ.”

Ánh mắt của cả phòng họp ngay lập tức đổ dồn vào tay Thẩm Trục Dã.

Động tác bưng chén trà của sếp Lâm khựng lại giữa không trung, lông mày khẽ nhếch lên.

Vị giám đốc cấp của Văn hóa Trục Dã bên cạnh cũng sửng sốt, ánh mắt dời từ chiếc nhẫn lên mặt Thẩm Trục Dã, rồi lại quét qua mặt tôi.

Bàn tay lật tài liệu của Thẩm Trục Dã khựng lại một nhịp.

Anh cúi đầu nhìn chiếc nhẫn trên ngón áp út của mình, giống như giờ mới nhận ra sự tồn tại của nó, rồi mới ngước mắt lên. Ánh mắt đó dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng họp cực kỳ tĩnh, tĩnh đến mức hơi thường.

“Ừ,” anh đáp, giọng đều đều, ngón tay lật tài liệu sang trang tiếp theo lại nhẹ nhàng hơn hẳn, giống như lỡ tay làm gãy nếp góc mép giấy, “ cá nhân.”

Không khí trong phòng họp dường như thay đổi một cách vi diệu. Vị giám đốc dự án bên cạnh ho khan một tiếng, giả vờ xem điện thoại.

Sếp Lâm uống một ngụm trà, ánh mắt đảo đi đảo lại giữa tôi và Thẩm Trục Dã một vòng. cung cấp vật liệu cũng biết điều không hỏi tiếp.

Chỉ có An An. Cô ấy tham dự cuộc họp này với tư cách là quản lý hành chính công ty chúng tôi, gửi cho tôi một tin nhắn WeChat, nội dung chỉ vỏn vẹn sáu chữ: 【He he, cá nhân.】

Tôi gửi trả một tượng giơ ngón tay giữa.

Tối hôm đó, Thẩm Trục Dã lái xe đưa tôi về nhà. Trong lúc chờ đèn đỏ, anh đột nhiên vươn tay nắm lấy bàn tay tôi đang đặt trên đầu gối.

Ngón tay anh đan vào kẽ tay tôi, hai chiếc nhẫn chạm vào nhau dưới ánh sáng mờ ảo của bảng điều khiển, phát ra tiếng động cọ xát rất khẽ.

“Hôm nay lúc họp có người hỏi anh về chiếc nhẫn,” anh nói, ngón cái khẽ vuốt ve khớp ngón áp út của tôi, “Anh bảo là cá nhân. Em có để tâm không?”

“Không sao. giờ công khai không tốt lắm, dự án vẫn đang thi công.”

“Ừ.” Anh đáp lại một tiếng, rồi quay đầu sang nhìn tôi. Ánh đèn đường bên ngoài cửa xe chiếu vào, đôi mắt anh nơi ranh giới sáng tối cùng sâu thẳm, “Nhưng sớm muộn gì anh cũng sẽ cho cả Phụng Thành này biết, Ôn Hạ là của Thẩm Trục Dã.”

Giọng điệu khi anh nói câu này vẫn thản như cũ, giống như đang trần thuật một sự thật hiển nhiên chắc chắn sẽ xảy ra và không phụ thuộc vào ý chí của kỳ .

Bị anh nhìn đến mức đỏ bừng mặt, tôi rút tay ra quay đầu vờ nhìn ra ngoài cửa sổ.

Bên ngoài cửa sổ là khung cảnh đường phố đìu hiu Mười hai của Phụng Thành, nhưng tôi lại nhìn thấy hình phản chiếu của mình trên lớp kính, khóe miệng tôi đang cong tít lên.

***

Tuần thứ ba sau khi yêu nhau, anh lên kế hoạch tổ một sự kiện trong ngành.

Danh nghĩa là “Hội Tương lai Phát triển Ngành Công nghiệp Văn hóa Sáng tạo Phụng Thành” do Văn hóa Trục Dã dẫn dắt, nhưng chất – theo lời anh tự khai sau này – chính là “Mượn cơ hội cả thành phố đang theo dõi, để chính thức giới thiệu Ôn Hạ với toàn ngành”.

Trước sự kiện ba ngày anh mới “tiện thể” thông báo cho tôi. Tối hôm đó anh vẫn đến dưới lầu công ty đón tôi như thường lệ, vừa lên xe anh đã quăng cho tôi một kẹp tài liệu.

Mở ra xem, đó là danh sách khách mời tham dự, trên đó liệt kê rành rành tuổi của hầu hết công ty thiết kế và tổ văn hóa sáng tạo có máu mặt ở Phụng Thành.

Còn trong cột khách mời phát , hai chữ “Ôn Hạ” chễm chệ ở vị trí số hai, xếp trên cả một loạt tiền bối trong ngành, chỉ đứng sau đích thân Thẩm Trục Dã.

“Cái này là sao đây?” Tôi giơ kẹp tài liệu lên hỏi anh.

“Sự kiện thứ Bảy tuần sau, em với tư cách là tổng công sư của khu phố văn hóa Lâm Giang sẽ có bài phát chính.” Anh nổ máy xe, giọng điệu như đang nói hôm nay tiết đẹp lắm.

“Sao tôi lại không biết mình phải lên phát chính?”

giờ em biết rồi đấy.” Anh chuyển làn đường, mắt nhìn thẳng phía trước, nhưng độ cong của khóe miệng đã tố cáo anh.

“Chẳng phải em luôn miệng ca cẩm là phương án của em bị sửa đi sửa lại bao nhiêu lần sao? Ngành này cần phải nhìn thấy em. Để sau này mỗi lần nhận dự án em đỡ phải mất công giải thích từ đầu em là , năng lực của em ở tầm nào. Lần này để cả Phụng Thành này biết em luôn.”

Tôi há miệng, định bảo “Anh làm thế này là độc tài quá đấy”, nhưng nhìn góc nghiêng của anh, cảm đó rõ ràng đang nói: *Tôi cứ thích cho tất cả mọi người biết, bản thiết kế chính do bạn gái tôi làm tốt đến mức nào.*

Người đàn ông này, ngoài miệng thì nói “Không phô trương ân ái ở nơi công cộng”, nhưng sau lưng thì làm toàn những chuyện quá quắt.

Tôi chợt nhớ đến chuyện lần trước anh không cho tôi lấy tay che cổ trong lúc họp.

Lần đó anh lừa tôi là dấu hôn biến mất rồi, kết quả cái động tác lấy tay che cổ của tôi lại càng giống  lạy ông tôi ở bụi này hơn.

Sau việc đó anh còn bảo: “Lần sau đừng có lấy tay che cổ trước mặt người khác, lộ liễu lắm.” Lúc đó tôi còn tưởng anh đang trêu tôi. Giờ nghĩ lại, ra anh đã tính toán hết cho tôi từ sớm rồi. Ngay từ lúc bắt đầu, anh đã chẳng hề có ý định giấu giếm.

Thứ Bảy hôm đó, phòng tiệc tầng 3 Trung tâm Hội nghị Quốc tế Phụng Thành chật kín không còn một chỗ trống.

Bên dưới chỗ ngồi đen kịt gần ba trăm người, tập hợp gần một nửa giới văn hóa sáng tạo của Phụng Thành.

An An ngồi ở hàng thứ ba, trước mặt bày một cái máy to đùng, ống kính chĩa thẳng vào tôi từ đầu đến cuối không chịu hạ xuống.

Sếp Lâm ngồi cạnh cô ấy, quần áo chỉnh tề, khuôn mặt toát lên vẻ tự hào kiểu “Đây là nhà thiết kế do tôi đào tạo ra”.

Thẩm Trục Dã với tư cách là người phụ trách đơn vị tổ lên phát khai mạc đầu tiên.

Anh mặc bộ vest ba mảnh màu xám đậm, cà vạt là chiếc tôi tặng anh, nền xanh sẫm chìm, không phô trương nhưng chất liệu cực kỳ tốt.

Anh đứng trên bục, một tay giữ micro, phong thái thong dong, nhàn nhã, nói về định hướng tương lai của ngành văn hóa sáng tạo Phụng Thành. Đèn flash máy dưới khán đài chớp nháy liên tục không biết bao nhiêu vòng.

Tôi đứng nấp cạnh tấm màn ở cánh gà, qua lớp nhung dày cộm nhìn xuống đám đông đen kịt bên dưới, lòng bàn tay đổ đầy mồ hôi lạnh.

Tôi hít sâu, tự nhủ: *Mày chỉ là một cốc nước ấm chưa kịp uống thôi, mày là chất lỏng mày là chất lỏng, căng thẳng là chất rắn cơ, mày không phải.*

Cái liệu pháp ám thị tâm lý kỳ cục này tôi đọc được trong một cuốn tạp chí thiết kế hồi đại học, trước mỗi lần lên sân khấu tôi đều lẩm nhẩm một lần, hiệu quả lúc tốt lúc không.

Rồi Thẩm Trục Dã nói . Cùng lúc tràng pháo tay nổ ra, anh đột nhiên quay người về hướng cánh gà, hơi giơ tay, làm một động tác mời về phía tôi.

“Sau đây xin trân trọng kính mời tổng công sư của dự án Khu phố Văn hóa Sáng tạo Lâm Giang, nhà thiết kế Ôn Hạ của Thiết kế Cảnh Duy, lên chia sẻ về ý tưởng thiết kế và những ký ức đô thị đằng sau dự án này.”

Tôi hít một hơi thật sâu, nắm chặt bút lật slide bước ra sân khấu. Ánh đèn tụ quang chiếu thẳng vào mặt, nóng đến mức tôi phải hơi nheo mắt lại.

Hơn ba trăm đôi mắt đồng loạt hướng về phía tôi.

Tôi bước ra giữa sân khấu, khoảnh khắc lướt qua vai anh, ngón tay anh ở một góc khuất mà người khác không nhìn thấy khẽ nắm chặt lấy mu bàn tay tôi một cái.

Tay anh vừa ấm lại vừa vững vàng.

“Mạnh dạn lên, nhà thiết kế Ôn.” Anh nghiêng đầu, thì thầm cực nhanh cực khẽ bên tôi một câu như vậy.

Hơi thở lướt qua vành tôi, âm lượng nhỏ đến mức chỉ hai chúng tôi mới nghe thấy. Sau đó anh lùi lại vài bước, đến ngồi ở vị trí ngoài cùng cạnh lối đi của hàng ghế đầu tiên dưới đài, vắt chéo chân, hai tay đan vào nhau đặt trên đầu gối, ánh mắt hướng lên.

Ánh mắt ấy không có lấy một tia lo lắng nào, chỉ có một trăm phần trăm sự tin tưởng tuyệt đối.

Tôi chuyển sang trang slide đầu tiên, hít thở sâu, rồi mở miệng. Micro phóng đại giọng nói của tôi vang vọng khắp phòng tiệc.

“Khu phố văn hóa sáng tạo Lâm Giang, không phải là một dự án xây dựng mới, mà là một dự án ‘tái sinh’. Vị trí cũ của khu phố này là quần thể kho bãi bến tàu Dân Quốc của Phụng Thành, từng viên gạch, từng khúc gỗ, từng vết khắc trên tường do công nhân để lại ở đây đều mang bề dày lịch sử hàng thế kỷ. Việc những nhà thiết kế chúng tôi có thể làm, không phải là đi kể lại lịch sử, mà là sáng tạo ra một không gian, để lịch sử tự nó lên tiếng.”

Tôi bày từ bối cảnh dự án đến giá trị của bến tàu cũ, từ quan niệm cốt lõi “Tái sinh ký ức” đến nhịp điệu cảm xúc trong từng phòng triển lãm.

Tôi kể về vệt nắng chênh lệch không quá 20 phân trong phòng triển lãm ánh sáng, về đoạn lối đi phục dựng cây cầu ván chòng chành theo tỷ lệ 1:1 ở lối vào bảo tàng ký ức đô thị, và cả “Tường tình thư đô thị” được chừa lại ở phần cuối cùng để mỗi khách tham quan tự viết lên.

Tôi thậm chí còn kể cả câu chuyện về tấm vé tàu cũ đó.

Tất nhiên, tôi không nói tấm vé tàu đó hiện giờ đang nằm trong túi trong áo vest của người đàn ông ngồi ngay phía sau tôi.

Dưới khán đài vang lên mấy đợt vỗ tay, lần nào tôi cũng đợi tràng pháo tay dứt hẳn mới tiếp tục.

An An ngồi ở hàng thứ ba, suốt buổi cứ giơ máy lên, hốc mắt đỏ hoe như vừa bị ăn hiếp.

Nói , tôi khẽ cúi người chào.

Tiếng vỗ tay từ dưới khán đài dội lên một cách chậm rãi và chân thành, đó không phải là phép lịch sự hời hợt của những buổi hội nghị, mà là sự tán thưởng tự nguyện của cả hội trường dành cho tôi.

MC tiếp quản lại micro. Đến phần Q&A, có vài người đặt câu hỏi, tôi đứng trên sân khấu lần lượt trả lời từng người một.

Câu hỏi cuối cùng là của một cô gái trẻ ngồi tít hàng ghế phía sau, giống như một nhà thiết kế mới vào nghề, đeo kính gọng tròn, giọng nói hơi run run căng thẳng.

“Nhà thiết kế Ôn, tôi muốn hỏi một chút, trong quá thiết kế dự án này, thử thách lớn nhất mà chị gặp phải là gì? Chị đã vượt qua nó như thế nào?”

Tôi suy nghĩ vài giây, rồi đưa micro lên sát miệng.

“Thử thách lớn nhất, có lẽ là quá mài giũa với Bên A.” Dưới khán đài vang lên một tràng cười khẽ.

Tôi nói tiếp, “Khách hàng của dự án này… Cũng tức là sếp Thẩm của Văn hóa Trục Dã, là một người cùng cùng khắt khe. Phương án của tôi bị anh ấy trả về yêu cầu sửa tới năm lần. Lần nào anh ấy cũng moi ra được một lỗi mới, lần nào tôi cũng tưởng mình đã làm đến mức giới hạn rồi, nhưng anh ấy vẫn nói với tôi là, cô vẫn chưa.”

Tiếng cười dưới khán đài vang lên to hơn, vài nhân viên của Văn hóa Trục Dã lén liếc nhìn Thẩm Trục Dã đang ngồi ở hàng ghế đầu.

Anh khẽ rướn mày, cười như không cười, một ngón tay chống cằm, không nhìn ra chút lúng túng nào, ngược lại còn toát lên vẻ ung dung thản nhiên chấp nhận khi bị điểm danh trước đám đông.

“Nhưng cũng chính vì anh ấy ép tôi, tôi mới tạo ra được tác phẩm mà bản thân sự tâm đắc.”

Tôi dừng lại một nhịp, rồi nói một câu mà chỉ có anh mới hiểu được lớp nghĩa ẩn sau màn báo cáo chuyên môn này, “Vậy nên tôi muốn mượn cơ hội này nói một tiếng cảm ơn, cảm ơn Bên A là Sếp Thẩm, cảm ơn anh vì đã không hài lòng với tôi ngay từ bản phác đầu tiên.”

Cả phòng tiệc tĩnh lặng vài giây, rồi bùng nổ tràng pháo tay nhiệt liệt nhất ngày hôm đó.

Tôi không biết bên dưới có bao nhiêu người hiểu được ý nghĩa sâu của câu nói đó, nhưng Thẩm Trục Dã ngồi hàng ghế đầu tiên đã hiểu.

Khóe miệng anh mím lại rồi từ từ cong lên, chiếc nhẫn trên tay hơi lấp lánh dưới ánh đèn.

 

Lưu ý: Thế giới và các tình tiết trong truyện là sản phẩm của trí tưởng tượng, đã được lý tưởng hóa nhằm phục vụ mục đích sáng tạo. Mọi sự trùng hợp với thực tế chỉ là ngẫu nhiên, không mang giá trị nghiên cứu hay đối chiếu.