Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và MỞ ỨNG DỤNG SHOPEE để mở khóa toàn bộ chương truyện.
https://s.shopee.vn/9ALC0P2znr
GLADE Combo 4 Sáp Thơm Khử Mùi Lưu Hương Bền Lâu 180g x4
Nội dung trên chỉ xuất hiện 1 lần trong ngày, mong Quý độc giả ủng hộ.
Mỗi click là một lời cổ vũ để Sen mang đến nhiều câu chuyện hấp dẫn hơn nữa!
1
Tôi cầm giấy đó, đứng lặng giữa sân hồi lâu.
Gió tháng Mười đã bắt đầu se lạnh, thổi vào mép giấy run bần bật. Tôi chẳng biết được chữ, nhưng hai chữ “Ly hôn” thì tôi nhận ra. Con gái lão Vương thọt đầu thôn ly hôn năm ngoái, chính tay tôi đã giúp đưa đi.
Thư gửi từ vị về, dán một con tem mới tinh, dấu bưu điện là của tỉnh thành. Trong phong bì chỉ có hai giấy, một là thỏa thuận ly hôn, kia là thư anh ta viết. Thư chỉ có đúng một câu đó, tôi lật đi lật lại xem tới năm lần.
“ Anh, tổ chức đã giới thiệu đối tượng cho tôi, cô ấy là phát thanh viên, có học thức, rất hợp chuyện với tôi. Chuyện của ta, cứ vậy kết thúc đi.”
Chuyện của ta.
ta có chuyện gì cơ chứ?
Tôi nhớ lại hai năm trước, bà nội người nuôi nấng anh ta khôn lớn bị ngã gãy lưng, họ hàng anh ta chẳng ai dám dây vào, cũng chẳng ai đến hầu hạ. Bà nội viết thư cho anh ta, anh ta lại bảo không về được, rồi quay sang viết thư cho tôi, hỏi tôi có thể giúp một tay không.
Khi đó, tuy tôi là vợ trên danh nghĩa của anh ta, nhưng số lần gặp đếm chưa hết đầu ngón tay, đến mũi anh ta thế nào tôi cũng sắp quên sạch, vậy tôi vẫn đi.
Bà nội anh ta nằm liệt trên giường, đại tiểu tiện đều trên giường lò. Ngày đầu tiên tôi đến, vừa lật chăn ra, cái mùi đó suýt nữa tôi ngã ngửa. Bà cụ ngại ngùng, cứ lấy tay che , bảo: “Con gái ơi con đi đi, đừng quản cái thân già sắp chết này nữa.”
Tôi không đi.
Tôi múc nước, lau người cho bà, thay nệm lót, rồi lại ôm đống chăn màn bẩn ra bờ sông giặt. Nước sông tháng Chạp lạnh đến buốt xương, tôi nghiến răng vò sạch những tấm vải dính đầy phân lấm bẩn.
Một lần hầu hạ này, chính là hai năm trời.
Suốt hai năm ấy, lưng của bà nội anh ta chẳng thấy khá hơn, nhưng người thì béo trắng ra. Ngày nào tôi cũng lật người, lau rửa, đút cơm, sắc thuốc cho bà, ban đêm còn thức giấc hai ba lần để dìu bà đi vệ sinh.
Bà nắm lấy tay tôi khóc, bảo: “ Anh à, họ Cố nợ con, kiếp sau bà có trâu ngựa cũng trả nợ cho con.”
Tôi bảo không cần đến kiếp sau , chỉ mong Trường Sơn trong ngũ cố gắng việc, sau này đón tôi ra ngoài mở mang tầm là tôi mãn nguyện rồi.
Hồi đó, tháng nào anh ta cũng gửi thư về. Trong thư viết huấn luyện cực khổ ra sao, viết anh ta nhớ thế nào, rồi dành dụm được bao nhiêu phụ cấp, mai này sẽ mua cho tôi một chiếc đồng hồ thật tốt.
Cuối thư bao giờ cũng có một câu: “ Anh, đợi anh thành đạt rồi, việc đầu tiên anh là đón em lên thành phố.”
Tôi gom tất cả những lá thư đó vào một chiếc hộp sắt, đặt dưới gối, nào nhớ anh ta lại mang ra đọc.
Sau đó, bà nội vẫn không qua khỏi.
lâm chung, bà nắm chặt tay tôi, nói muốn gặp cháu trai một lần cuối. Tôi nhờ người đánh điện tín lên vị, ba ngày sau có điện phản hồi: vị có nhiệm vụ, không về được.
Một tôi mặc áo liệm cho bà, một giữ linh cữu, một quỳ chịu tang.
Ngày đưa tang, tôi khoác áo tang, ôm bài vị, quỳ lạy từ đầu làng đến cuối xóm. Đầu gối quỳ đến rách toác, máu dính chặt ống quần vào thịt, tối đến lột ra không nổi.
Người trong làng nhìn thấy đều bảo: “Thằng Cố Trường Sơn đúng là tốt số mới cưới được cô vợ hiền đức thế này.”
Tôi cũng nghĩ, chắc hẳn anh ta sẽ ghi nhớ cái tình cái nghĩa của .
Thế bây giờ, nhìn lá thư trong tay, đột nhiên tôi chẳng nhớ nổi mũi anh ta ra sao nữa…
Tôi gấp lá thư lại, nhét vào phong bì.
Trong vẫn còn bài vị của bà nội, tôi quỳ trên bồ đoàn, lạy bài vị ba cái.
“Bà ơi, Trường Sơn không cần con nữa rồi.”
Bài vị không biết nói.
Tôi lạy thêm ba cái nữa: “Cơm gạo những năm qua, con không ăn không của bà. Từ nay về sau, con không hầu hạ họ Cố nữa.”
Tối đến, tôi lôi chiếc hộp sắt kia ra.
Mười bảy lá thư, phong một trải rộng trên giường lò. Giấy thư đã ngả vàng, góc mòn vẹt vì tôi đã đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần.
Tôi tìm hộp diêm, quẹt một que, đưa lá thư sát vào ngọn .
Khi bùng lên, tôi nhìn thấy dòng chữ đầu tiên: “ Anh, nhìn chữ như thấy người…”
liếm một vòng, chữ mất sạch.
bức, bức bị thiêu rụi, đến bức cuối cùng là ảnh chụp huân chương công anh ta gửi về. Trong ảnh, anh ta mặc phục bốn túi, ngực cài huy chương, trông cũng ra dáng người ngợm lắm.
Tôi ném luôn bức ảnh vào đống .
Anh ta nhìn tôi, cười trong đám .
tắt, bóng tôi in trên tường. Đen đúa, gầy gò, lưng hơi còng, tóc tai búi vội rối bời.
Tôi mới có hai mươi tuổi.
Vậy người trong gương trông chẳng khác gì bà lão họ Triệu sáu mươi tuổi đầu làng phía Đông.
Sáng sớm hôm sau, tôi quét tước sân vườn, cho gà ăn, gánh nước đầy lu. Sau đó thay bộ quần áo sạch sẽ, nhét ly hôn vào túi, khóa cửa lại rồi đi lên huyện.
Gặp dì Lưu đầu làng đang xách giỏ đi mua thức ăn, thấy tôi dì liền gọi: “ Anh, đi đấy? Chồng cháu chẳng vừa gửi thư về sao? Khi nào thì đón cháu lên thành phố hả?”
Tôi đáp: “Anh ấy không đón nữa ạ.”
“Cái gì?”
Tôi mỉm cười với dì: “Con lên huyện có chút việc, sau này chắc không về nữa.”
Dì Lưu ngẩn người ra đó, giỏ thức ăn suýt nữa rơi đất.
“Không về nữa? Thế cháu đi ? Cháu chưa ra khỏi xã một , sao tự dưng lại lên huyện?”
“Không sao ạ, một con cũng lo được!”
2
Sân của Ban Chỉ huy sự huyện không lớn, gồm hai dãy ngói, giữa là một sân tập.
Tôi đứng cửa nhìn vào trong. Trên sân tập có chục người đang huấn luyện, người chạy bộ, người tập đội ngũ. Bên có dựng một cái lán, người mặc phục ngồi đó, trước bày chiếc với một xấp biểu mẫu.
Đó là nơi đăng ký nghĩa vụ sự.
Tôi bước tới, đứng trước .
Vị cán bộ đang ngồi ngẩng đầu lên nhìn tôi một cái, rồi lại cúi viết vài chữ vào giấy. Viết xong, anh ta lại ngẩng lên nhìn tôi lần nữa.
“Đồng chí, cô tìm ai?”
Tôi nói: “Tôi đến để đăng ký nhập ngũ.”
Anh ta sững lại, đánh giá tôi từ trên dưới. Tôi mặc chiếc áo khoác xám đã giặt đến bạc màu, cổ tay áo sờn lông. Chân đi đôi giày vải dính đầy bùn đất. Tóc búi qua loa, khuôn bị nắng nhuộm đen đỏ.
Anh ta hỏi: “Bao nhiêu tuổi?”
“Hai mươi.”
“Trình độ văn hóa thế nào?”
“Đã học hai năm lớp xóa mù chữ, biết viết một chút.”
Anh ta đặt bút , lắc đầu: “Đồng chí này, năm nay tôi tuyển binh có văn hóa, tốt nhất là ưu tiên trình độ trung học cơ sở. Cô thế này thì…”
Anh ta chưa nói hết câu, nhưng tôi hiểu ý anh ta là gì.
Một lính trẻ đứng bên ghé sát lại, nói nhỏ: “Đại đội trưởng, cô này có nhầm chỗ không thế?”
Vị đại đội trưởng liếc ta một cái, rồi lại nhìn tôi, bảo: “Đồng chí này, cô về đi. Sang năm hãy quay lại, biết sang năm chính sách sẽ nới lỏng hơn.”
Tôi không nhúc nhích.
Anh ta nhíu mày, định nói thêm gì đó thì bỗng nhiên từ xa vang lên một tiếng “Pạch” rất lớn.
Tất cả tôi đều ngoảnh đầu nhìn lại.
Phía bên kia sân tập, người lính đang tập bắn bia. Không súng thật, là loại súng gỗ dùng để huấn luyện. Bia đặt cách đó hơn năm mươi mét, là một tấm gỗ có vẽ các vòng tròn.
Có một người lính bắn lệch, viên đạn chẳng biết đã đi đằng nào.
Đại đội trưởng mắng một câu, đứng dậy định đi qua đó.
Ngay này, tôi thấy một con sẻ từ cái cây bên sân tập lên, cánh vỗ phành phạch, không cao lắm.
Tim tôi khẽ động.
Khi cha tôi còn sống, đi lính, còn là thợ săn giỏi nhất vùng. đã dạy tôi cách bắn súng cao (ná bắn đá).
bảo: “ Anh à, sáng là trời phú, cha cũng không bằng con .”
Sau này mất, những nhớ , tôi lại mang súng cao ra bắn vài con sẻ mang về hầm canh uống.
Tôi đưa quét đất, thấy chân có một viên đá nhỏ, tròn trịa, rất vừa tay.
Tôi cúi người nhặt lên, rồi rút chiếc súng cao từ trong túi ra.
Chiếc súng này là di vật cha để lại cho tôi, tay cầm bằng gỗ được mài đến bóng loáng, dây thun đã thay lần, tôi nào cũng mang theo bên người.
Đại đội trưởng vừa định bước ra sân tập thì khựng lại.
Anh ta thấy tôi rút súng cao , thấy tôi nheo , thấy tôi giơ tay lên.
Con chim sẻ đã ra xa khoảng sáu bảy mươi mét, sắp đến tận phía bên kia sân tập.
Tôi kéo căng dây súng, ngắm nghía, rồi “Vút” một tiếng, viên đá đi.
Con sẻ rơi cắm đầu , nằm ngay chính giữa sân tập.
người lính trên sân giật , xúm lại xem.
Tôi bước tới, nhặt con sẻ lên, đi ngược về phía chiếc rồi đặt nó lên .
Đại đội trưởng cúi đầu nhìn con sẻ, rồi lại ngẩng lên nhìn tôi.
Trên đầu con sẻ có một lỗ nhỏ, máu đang rỉ ra. Một phát trúng đích.
Anh ta hỏi: “Cô biết dùng súng cao à?”
Tôi đáp: “Vâng.”
Anh ta im lặng, dán vào con sẻ hồi lâu.
lính trẻ bên há hốc mồm, mãi mới thốt lên: “Đại đội trưởng, cái này… cái này còn chuẩn hơn cả súng của ta nữa.”
Đại đội trưởng lườm ta một cái, lại nhìn tôi: “Cô tên gì?”
“Tôn Anh.”
“Người ?”
“Thôn Thanh Thạch Oa.”
Anh ta gật đầu, ngồi , rút một từ trên ra.
“Tại sao muốn đi lính?”
Tôi nói: “Để bảo vệ tổ quốc.”
Anh ta ngước nhìn tôi, ánh có chút kỳ lạ. lính trẻ bên thì che miệng cười trộm.
Tôi biết họ cười gì. Một đứa con gái nông thôn nói chuyện bảo vệ tổ quốc nghe chừng có vẻ hơi kỳ cục.
Nhưng tôi không nói dối.
Cha tôi là lính, lập công, sau này bị thương nên phục viên về ruộng. thường bảo tôi rằng, người đi lính thì có lòng bảo vệ tổ quốc. Sau khi mất, lời này tôi luôn ghi tạc trong lòng.
Đại đội trưởng nhìn tôi một , rồi lại nhìn con chim sẻ.
Anh ta đẩy về phía tôi: “Điền vào đi. Ba tháng tân binh, trụ lại được thì lại, không trụ được thì từ về đấy.”
Tôi không biết chữ, anh ta bảo lính trẻ dạy tôi viết nét một.
Đến cột “Sở trường”, tôi suy nghĩ một chút, không biết nên viết gì.
Đại đội trưởng nói: “Cứ viết là: Thiên phú bắn súng nổi bật, trong vòng trăm mét, dùng súng cao bắn chim.”
lính trẻ vừa cười vừa viết vào.
chuẩn bị đi, đại đội trưởng gọi tôi lại.
“Tôn Anh,” anh ta nói, “ đội không trạm cứu trợ, cũng không nuôi kẻ rảnh rỗi. Vào đó rồi, cô dựa vào bản lĩnh thật sự. Kỹ năng bắn súng cao đó chỉ là tấm vé thông hành thôi. Sau này đi tiếp thế nào, xem vào bản thân cô.”
Tôi nói: “Tôi biết rồi.”
Anh ta gật đầu, vẫy tay cho tôi đi