Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và MỞ ỨNG DỤNG SHOPEE để mở khóa toàn bộ chương truyện.

https://s.shopee.vn/1BEIl5JaQ9

Lưu ý: Nội dung trên chỉ xuất hiện 1 lần trong ngày, mong Quý độc giả ủng hộ. Xin chân thành cảm ơn!

Chương 3

Là Lý Kiến Quốc.

“Không… không, là anh Chu! Anh Chu chủ tịch!”

như chợt nhận ra xưng hô không ổn, lập tức đổi giọng.

“Chu tổng, trước kia chú bị mỡ heo che mắt, chú là đồ không ra gì! Chú không biết nhìn người, đắc tội với anh! Anh đại đại lượng, đừng chấp với mấy tên nhà quê đầu đất như chúng tôi…”

líu ríu lỗi, hối lỗi, nịnh bợ.

“Chu tổng, anh nhìn xa trông rộng, anh là người tài giỏi nhất làng! Bây chỉ có anh mới cứu được chúng tôi! Van anh, chỉ cho chúng tôi một con đường sống! Chỉ cần anh nói một câu, cả làng nguyện nghe theo, dù phải trâu ngựa cũng được!”

Giọng nói của như sắp trào ra khỏi loa điện thoại vì tuyệt vọng.

Tôi im lặng vài giây.

Qua tiếng thở gấp gáp của Lý Kiến Quốc, tôi hình dung được bên cạnh lúc này, nhất là cả làng đang vây quanh, nín thở lắng nghe, đặt hết hy vọng vào cuộc gọi này.

Tôi khẽ bật .

Rồi bằng giọng điệu thấp nhất, lạnh nhất và rõ ràng nhất, tôi nói vào ống nghe hai chữ:

“Chờ đi.”

Nói xong, tôi lập tức dập máy.

05.

“Chờ đi.”

Hai chữ ấy, đối với dân làng họ Lý đang cùng đường, chẳng khác mưa rào giữa hạn hán.

Lý Kiến Quốc cứ ngỡ đó là hy vọng.

Lập tức rêu rao khắp làng rằng tôi – Thẩm Chu – vẫn nhớ tình cũ, chuẩn bị ra tay cứu họ.

Kể từ đó, điện thoại tôi trở đường dây nóng của cả làng.

Từ sáng đến tối, vô lạ liên tục gọi đến, tin nhắn chen chúc khiến hộp thư chật cứng.

Nội dung thì y hệt – hối lỗi, lỗi, nịnh nọt và cầu cứu.

Những kẻ từng dùng lẽ độc ác nhất để nguyền rủa tôi, đây dùng thế hèn hạ nhất để nâng tôi lên tận mây xanh.

“Anh Chu, tôi sai rồi, mắt tôi mù mới không nhìn ra!”

“Chu tổng, anh là Bồ Tát sống, anh thương chúng tôi!”

“Ai cũng biết anh thông minh từ nhỏ, chắc chắn có cách cứu làng mình!”

Trước tất cả những điều đó, tôi chẳng đoái hoài – không nghe điện thoại, không trả tin nhắn.

Tôi để mặc họ trong hy vọng và dày vò, từ từ lên men, từ từ mục ruỗng.

Cùng lúc đó, tôi bắt đầu hành động.

Tôi dùng tiền trong tay lập một quỹ văn hóa nhỏ.

Rồi tôi chủ động liên hệ với người phụ trách chính trong dự án khai quật ngôi mộ cổ lần này – Giáo sư Trần, một học giả tầm cỡ trong giới khảo cổ.

Tôi giấu tên, sao chép một phần ghi chép của ông nội – những liệu về truyền thuyết địa phương và chi tiết địa hình, không liên đến bí mật cốt lõi – gửi cho đội khảo cổ.

Những liệu được cho là đến từ “một nhà nghiên cứu dân gian đã mất” ấy trùng khớp hoàn hảo với nhiều giả thiết của họ, và cung cấp hướng nghiên cứu hoàn toàn mới.

Giáo sư Trần như nhặt được báu vật, lập tức liên hệ theo thông tin để lại, bày tỏ mong muốn gặp gỡ hậu của “nhà nghiên cứu dân gian đã khuất”.

Buổi gặp diễn ra suôn sẻ.

Tôi tỏ ra khiêm nhường, khẩn, tràn đầy trọng với văn hóa sử.

Đúng thời điểm thích hợp, tôi thay mặt quỹ văn hóa, quyên tặng một khoản tiền tám con cho dự án khảo cổ lần này.

Khoản tiền ấy dùng để mua thiết bị khảo cổ hiện đại nhất và cải thiện điều kiện việc cho đội ngũ nghiên cứu.

Giáo sư Trần hết khen ngợi, lập tức quyết mời tôi “Cố vấn đặc biệt” cho dự án, đồng thời trao cho quỹ của tôi danh hiệu “Đơn vị hợp tác chính”.

Vài sau, một đoàn xe Audi đen bóng nối đuôi , rầm rộ tiến vào cổng làng họ Lý.

Ngôi làng tàn tạ lập tức náo loạn.

Dân làng tưởng là chủ đầu mới đến, hoặc nhóm công tác của chính phủ, bèn ùa ra khỏi những túp lều rách như cá mập ngửi thấy mùi máu, bao vây đoàn xe.

Cánh cửa chiếc xe đi đầu mở ra.

Giáo sư Trần, dưới hộ tống của người, bước xuống, tinh thần quắc thước.

Dân làng ngây ra – không ai nhận ra ông.

Ngay sau đó, cửa ghế phụ mở ra, một người bước xuống.

Người đó mặc vest cấp may đo chỉnh chu, tóc chải gọn gàng, đeo gọng vàng, khí chất quý mà xa cách.

Khi người ấy tháo râm, lộ ra gương mặt mà họ quen thuộc đến khắc cốt ghi tâm, cả cổng làng rơi vào im lặng chết chóc.

Sắc mặt của Lý Kiến Quốc và Thúy, chỉ trong vài giây, đã chuyển từ mừng rỡ, sang kinh ngạc, rồi tái nhợt, và cuối cùng là sợ hãi đến cùng cực.

Miệng họ há hốc, chỉ tay vào tôi, ra âm thanh khò khè như mắc nghẹn, nhưng không thốt được một .

Tôi không nhìn họ.

Ánh mắt tôi lướt qua những khuôn mặt quen mà lạ – những khuôn mặt từng sỉ nhục và nhạo báng tôi không tiếc .

đây, trên mặt họ chỉ còn lại hèn mọn, và kinh hoàng.

Tôi bước thẳng đến bên cạnh Giáo sư Trần, khẽ gật đầu.

Rồi quay sang người đội trưởng đội an ninh dẫn đoàn, nhàn nhạt lên tiếng:

“Công tác nghiên cứu khảo cổ của Giáo sư Trần và đội ngũ vô cùng trọng với quốc gia, yêu cầu nâng cấp an ninh lên mức nhất.”

“Từ hôm nay, phong tỏa toàn bộ khu vực trọng điểm, cấm tuyệt người không liên bén mảng.”

Tôi ngừng một chút, giơ tay lên, ngón tay dài và thon, chỉ thẳng vào gia đình Lý Kiến Quốc đã mặt cắt không còn giọt máu.

“Nhất là bọn họ.”

06.

xuất hiện của tôi, cùng với thân phận hoàn toàn mới, như một quả bom nổ tung giữa làng họ Lý.

Lý Kiến Quốc hoàn toàn hoảng loạn.

Ông ta dẫn theo một đám dân làng, bất chấp ngăn cản của đội an ninh, xông thẳng đến trước mặt tôi.

“Phịch!” – ông ta quỳ rạp xuống đất.

Một người đàn ông ngoài năm mươi, trước mặt toàn bộ dân làng, nước mắt nước mũi đầm đìa, gào khóc thảm thiết:

“Anh Chu ơi! Tôi sai rồi! Tôi thật sai rồi! Tôi anh! anh rộng tha cho chúng tôi một con đường sống!”

Phía sau ông ta, dân làng cũng đồng loạt quỳ xuống như domino, tiếng khóc lóc, van vang lên không dứt.

Cảnh tượng đó, buồn đến mức không thể tả.

Tôi tháo râm, từ trên nhìn xuống họ, trên môi thậm chí còn nở một nụ dịu dàng.

“Có chuyện gì vậy? Mau đứng dậy đi.”

Tôi đỡ một cụ già đứng gần nhất, giọng thân thiết:

“Láng giềng cả, sao tôi lại mặc kệ được? người yên tâm.”

Nghe câu ấy, mắt dân làng sáng rỡ như thấy được cọng rơm cứu mạng cuối cùng.

“Tôi nói mà! Thẩm Chu là đứa tốt bụng!”

“Có học thức đúng là khác hẳn, có lương tâm!”

Lý Kiến Quốc cũng nở nụ nhẹ nhõm như vừa được sống sót sau tai nạn, loạng choạng đứng dậy, mặt mày nịnh bợ.

Tôi mỉm , nói tiếp:

“Dù sân bay không xây được nữa, nhưng làng ta được quy hoạch khu bảo tồn vĩnh viễn, chẳng phải cũng là chuyện tốt sao? Nghĩ xem, một lăng mộ vua thời Hán to thế, sau này triển du , chẳng phải thu hút rất nhiều du khách sao? Cuộc sống người vẫn có hi vọng mà!”

“Du ?”

“Đúng vậy, triển du !”

Ánh mắt dân làng càng thêm rực sáng, bắt đầu thì thầm bàn tán, hưng phấn bàn kế hoạch.

Tựa như họ đã thấy trước một tương lai phồn hoa tài lộc cuồn cuộn kéo về.

Tôi lặng lẽ thưởng thức niềm “hi vọng giả tạo” ấy trên khuôn mặt họ, rồi nhìn sang Giáo sư Trần bên cạnh.

“Nhưng mà, giáo sư Trần này, tôi nhớ ngài từng nói, để bảo tồn tối đa các di tích, những khu bảo tồn cấp quốc gia như thế này, kế hoạch triển du và quyền vận hành sau này, đều phải do cơ chuyên trách của nhà nước tiếp quản, đúng không ạ?”

Giáo sư Trần lập tức gật đầu nghiêm nghị, giọng vang vọng:

“Dĩ nhiên! Đó là quy trong Luật Bảo vệ Di sản Văn hóa Quốc gia! Khu vực này thuộc quyền sở hữu của nhà nước, bất kỳ cá hay tổ chức nhúng tay vào đều là vi phạm pháp luật!”

Câu nói ấy như gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt.

Nụ trên mặt dân làng lập tức đông cứng.

Máu trên gương mặt họ như bị rút cạn trong nháy mắt, ai nấy đều tái mét giống hệt Lý Kiến Quốc.

Tôi giả vờ “tiếc nuối”, thở dài, dang tay ra vẻ bất lực.

“Chà… thế thì thật đáng tiếc.”

Tôi nhìn vẻ mặt tụt dốc không phanh của họ – từ thiên đường rơi thẳng xuống địa ngục – trong khoan khoái vô cùng.

“Nhưng mà,” tôi lại mở , như thắp lên chút hy vọng mong manh cuối cùng cho họ,

“Dù không được quyền vận hành, nhưng tôi có thể nói với lãnh đạo dự án, đề xuất tuyển một viên an ninh và vệ sinh môi trường, phụ trách bảo vệ và dọn dẹp hằng trong khu khảo cổ.”

“Lương không đâu, một tháng chỉ khoảng ba nghìn tệ, nhưng bao ăn bao ở. Chỉ tiêu có hạn, ai đến trước được trước.”

“Nếu ai tâm, có thể đăng ký với trưởng thôn, bảo ông ấy tổng hợp danh sách.”

Vừa dứt , ánh mắt dân làng nhìn Lý Kiến Quốc lập tức thay đổi.

Không còn là tin tưởng, lệ thuộc như trước kia.

Mà là nghi ngờ, cảnh giác, thậm chí là thù địch.

Vì chỉ vài công việc nhỏ nhoi, họ đã không còn là “tập thể đoàn kết”, mà biến những đối thủ ganh đua, rình rập, tranh giành từng cơ hội.

Thúy – vợ trưởng thôn – tưởng dựa vào thân phận có thể chen lên tôi, còn miệng thì ríu rít:

“Tiểu Chu à, con dâu của thằng Hổ nhà cô…”

Chưa nói hết câu, đã bị hai vệ sĩ mặc đồ đen bên tôi ngăn lại, như xách con gà con, kéo ra một bên.

Tôi lạnh lùng nhìn bà ta, giọng rét buốt:

giọng to đấy, hợp quản đốc công trường, đáng tiếc ở đây không cần.”

Mặt Thúy đỏ bừng như gan lợn.

Tối hôm đó, chẳng cần tôi ra tay thêm.

Khu lều trại trong làng vì vài suất bảo vệ và lao công nhỏ bé mà nổ ra mâu thuẫn kịch liệt.

Có người chửi Lý Kiến Quốc giở trò, ngầm đưa suất cho người nhà.

Có người bắt đầu moi móc chuyện xấu cũ kỹ của để chứng minh “tôi tốt hơn ”.

Tiếng chửi, tiếng khóc, tiếng đánh … hỗn loạn không tả.

Tôi đứng trên sườn đồi gần đó, đón gió chiều, như đang xem một vở kịch khỉ náo nhiệt.

Tôi nhìn họ vì chút cơm thừa canh cặn tôi vứt xuống, mà tranh giành cắn xé như chó hoang.

Trong tôi, không gợn sóng.

Bấy nhiêu đó đã là gì?

Đây mới chỉ là món khai vị.

07.

Chia rẽ dân làng, để họ tự đấu đá lẫn , chỉ là bước đầu.

Bước tiếp theo, tôi rút củi đáy nồi, triệt để cắt đứt gốc sinh tồn của họ tại nơi này.

Vài sau, với cách “cố vấn đặc biệt”, tôi gửi cho ban quản lý khảo cổ một bản kiến nghị mang tên:

“Một đề xuất về tăng cường công tác bảo vệ môi trường khu vực trọng điểm lăng mộ vua Hán”.

Bản kiến nghị có đầy đủ lý lẽ, trích dẫn các dẫn chứng uy tín, nhưng cốt lõi chỉ có một:

Muốn bảo vệ di vật dưới đất, thì phải áp dụng biện pháp quản lý nghiêm ngặt nhất đối với hệ sinh thái khu vực.

Giáo sư Trần và lãnh đạo dự án hết sức khen ngợi, lập tức thông qua, phối hợp cùng chính quyền địa phương ban hành một loạt quy mới.

Quy 1: Cấm tuyệt đối hình thức canh tác quy mô lớn trong khu bảo tồn.

Lý do: thuốc trừ sâu và phân bón thẩm thấu qua đất, gây ăn mòn cấu trúc di tích.

Lý do: phân gia súc gây ô nhiễm nước và đất, phá hoại hệ sinh thái khảo cổ.

Toàn bộ lợn, gà, vịt, bò… đều phải được xử lý trong ba . Quá hạn bị tiêu hủy bắt buộc.

Quy 3: Cấm xây mới, mở rộng, hoặc cải tạo bất kỳ công trình .

Toàn bộ kiến trúc hiện có được quy vào diện “bảo tồn cảnh sử”, không ai được phép đụng đến.

Tức là – mơ tưởng cải thiện chỗ ở, chấm dứt.

Còn những túp lều dân làng dựng lên để “chống đối”, bị quy là “công trình tạm trái phép”, phải dỡ bỏ trong 24 .

Tôi đích thân dẫn đội an ninh và lực lượng thi hành, giám sát toàn bộ quá trình.

Chuồng lợn nhà Thúy – cái nơi duy nhất bà ta còn đặt hy vọng – là mục tiêu đầu tiên bị san bằng.

Mấy con lợn béo mập ấy, là tất cả vốn liếng bà ta.

Tiếng máy xúc gầm rú, đẩy đổ tường đất, Thúy lập tức sụp đổ.

Bà ta như hóa điên, lăn lộn trên mặt đất, chửi bới tổ tiên cả làng, gào khóc đến lạc giọng.

Nhưng lần này, không ai dung túng cho bà ta nữa.

Hai vệ sĩ lớn tiến lại, mặt lạnh như tiền, xách bà ta từ đất dậy, quẳng ra vệ đường như rác.

Dân làng muốn lên phố kiếm việc , nhưng tuyệt vọng hiện – sau một năm “đấu tranh” tai tiếng, làng họ Lý đã bị gắn mác xấu.

“Tặc dân”, “vô lại”, “chuyên đòi vạ” – những cái nhãn ấy dán chặt lên họ.

Không một nhà máy , không một công trường dám nhận họ.

Không ruộng để trồng, không vật nuôi để bán, lều cũng bị phá, không còn nơi trú thân.

Họ rơi vào đường cùng.

Cả làng chỉ còn sống nhờ vào phần cơm thừa canh cặn của đội khảo cổ bỏ lại sau mỗi bữa ăn.

Những kẻ từng hét đòi một tỷ, từng xem mình là thiên tử, sống không bằng ăn mày.

Còn tôi, mỗi lái chiếc Mercedes địa hình, cốp xe đầy ắp hoa quả, rau củ và thực phẩm hảo hạng, đúng mang lên núi cho đội khảo cổ.

Mỗi lần đi ngang qua cổng làng, nhìn đám dân làng rách rưới, vàng vọt, đôi mắt chứa đầy ghen tị, sợ hãi và oán độc nhìn tôi.

Tôi đến xe cũng lười hạ xuống.

Có một hôm, Lý Kiến Quốc điên, lao ra chặn đầu xe tôi, quỳ gối xuống đất đá, đầu đập từng nhát nặng nề xuống con đường lởm chởm sỏi.

“Bộp! Bộp! Bộp!” – âm thanh nặng nề vang lên.

Chẳng mấy chốc, trán ông ta đầy máu.

“Chu tổng! Tôi van anh! anh thương tình cho chúng tôi một con đường sống! Chúng tôi thật biết sai rồi!”

Ông ta khóc đến nước mắt nước mũi hòa một, thấp hèn đến tột cùng.

Tôi từ tốn hạ cửa , đeo râm, lạnh lùng nhìn xuống ông ta.

Thấy khuôn mặt đầy máu và nếp nhăn ấy, tôi bỗng nhớ lại năm xưa, đưa tang bà, ông ta đứng chắn cổng làng, vênh váo tự mãn, khinh người đến nhường .

Tôi khẽ cất giọng, bình thản nhưng vang vọng, từng chữ một lọt vào tai người xung quanh:

“Đây chẳng phải chính là cuộc sống điền viên mà các người muốn sao?”

Tùy chỉnh
Danh sách chương