Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và MỞ ỨNG DỤNG SHOPEE để mở khóa toàn bộ chương truyện.
https://s.shopee.vn/3VcDXCRvwO

Lưu ý: Nội dung trên chỉ xuất hiện 1 lần trong ngày, mong Quý độc giả ủng hộ. Xin chân thành cảm ơn!
7
Những ngày ở trường Hàng không, tôi quen biết rất nhiều phi công.
Bọn họ không ai là không hăng hái, phóng khoáng ngang tàng.
Nhưng khi tôi hỏi bọn họ: “Nếu tôi nói, vào một ngày nào đó trong tương lai, các anh bay lên trời rồi sẽ không giờ trở về , các anh có sợ không?”
Bọn họ nhìn nhau, cười nói: “Nếu có ngày đó, chúng tôi cũng coi như làm rạng rỡ tổ tông rồi. Chúng tôi đến đây là quyết tâm phải chết, cho nên tôi có thể kiên nói với cô, tôi, chúng tôi đều không sợ.”
Họ tranh nhau nói: “Khoảnh khắc cha tôi tự tay đeo phù hiệu lên tay tôi, tôi đã danh ở chỗ Diêm Vương rồi.”
“Đúng vậy, sang Đức học lái máy bay, ông đây đã nghĩ chết nhất phải đâm trúng vài chiếc máy bay của giặc , cho chúng nó không dám hống hách .”
Nói rồi họ lại thở dài: “Chỉ tiếc là mấy người chúng tôi còn trẻ, chưa kết hôn, nếu kết hôn có người nối dõi thì còn có thể mở riêng một trang gia phả, vinh quang biết .”
Đúng vậy, bọn họ đều còn rất trẻ, rất trẻ.
“Em gái Nguyễn, lát chụp cho mỗi người bọn anh một tấm nhé, phải đẹp trai chút, sau này biết đâu trên bia mộ của anh dùng đến, nhất phải đẹp trai đấy nhé.”
Nói rồi còn vuốt lại mái tóc vuốt keo bóng loáng.
Bọn họ nhìn rồi lại cười ha hả: “Nhìn cái đồ không biết xấu hổ này.”
Nghe họ dùng giọng điệu hài hước kể về cái chết, nước mắt tôi cứ thế tuôn rơi một cách khó hiểu.
Đột nhiên, tiếng còi động kéo dài vang lên.
Mọi người lập tức thu lại nụ cười trên mặt, nhanh chóng đứng dậy, chạy về phía sân bay.
Phùng Bối Khanh cầm mũ bảo hiểm trên tay, quay người lại giơ tay lau nước mắt trên mặt tôi.
“Đừng sợ, sẽ trở về .”
Nói xong liền không quay đầu lại lên máy bay.
Tôi đứng ở rìa sân bay, nhìn từng chiếc máy bay cất cánh.
Hét lớn: “Tôi còn chưa chụp cho các anh , nhất phải nhớ trở về đấy!”
Tiếng gầm rú vút qua như đang đáp lại.
Chúng tôi sẽ trở về.
Tôi không biết họ bay đi đâu, vốn đợi họ trở về chụp cho họ.
Nhưng cho đến khi tôi và thầy Tạ kết thúc chuyến công tác, họ vẫn chưa trở về.
8
Cùng thầy Tạ trở về Bắc Bình, tòa soạn bận rộn suốt mấy ngày, sắp xếp xong bản thảo và chụp trên tay.
Thầy Tạ thấy quầng thâm đậm dưới mắt tôi, trêu chọc: “Nhìn quầng thâm mắt của con còn to hơn mắt rồi kìa.”
Tôi phồng má, tức giận chỉ vào tập tài liệu trên bàn.
“Thầy Tạ, con đã nửa tháng không được nghỉ rồi.”
Thầy Tạ bất lực lắc đầu.
“Đã vậy, ngày mai cho con nghỉ một ngày.”
Tôi chớp mắt, vẻ mặt không thể tin nổi, nói cũng : “Thật… thật ạ?”
Thầy Tạ cầm tờ trên tay vỗ nhẹ vào đầu tôi: “Thầy chưa giờ nói đùa.”
Không chỉ vậy, thầy Tạ còn trả lương tháng này cho tôi.
Chuyện hạnh phúc nhất trên đời này chính là vừa được phát lương vừa được nghỉ phép.
Tôi mang những đồng bạc, vui vẻ xách túi nhỏ tung tăng trên phố.
Đang đi tiêu pha một trận.
Chỉ là ở cửa bách hóa, nhìn thấy một người phụ nữ mặt mũi bầm dập đang con xin ăn trên đường.
Đứa bé trong lòng cô ta gào khóc: “Nương, đói.”
Tôi không đành lòng, bước tới lấy tiền trong túi đưa cho cô ta.
Cô ấy kinh ngạc ngẩng đầu: “Tiểu thư, nhiều quá, nhiều quá.”
Tôi mím môi: “Không nhiều, chị cầm lấy.”
này cô ấy mới cảm kích nhận lấy.
Rồi dắt đứa bé dập đầu mấy cái thật mạnh mặt tôi.
“Cảm ơn tiểu thư, cảm ơn tiểu thư.”
Tôi nhìn làn da trần trụi trên cánh tay cô ấy, không chỗ nào là không bầm tím đỏ ửng.
Vội vàng ngồi xuống đỡ cô ấy dậy.
“Là ai bắt nạt con chị thành ra thế này?”
Cô ấy cánh tay, nước mắt trong hốc mắt cứ thế rơi xuống lã chã.
Tôi đưa con họ đến nhà hàng ăn một bữa cơm.
Người phụ nữ con này là Tiểu Liễu, tuổi tác xấp xỉ tôi.
Năm mười ba tuổi vì cha hút thuốc phiện không trả được nợ, bị cha bán cho ông tiệm thuốc phiện để gán nợ.
Vì một Tiểu Liễu có tật, bị thọt, lại bị ông tiệm thuốc phiện bán rẻ cho một lão già độc thân.
Ban đầu lão già này đối xử với cô ấy cũng tạm được, ít nhất cũng có cơm ăn.
Chỉ là sau này Tiểu Liễu mang thai sinh hạ một bé gái, từ đó tính tình lão già thay đổi hẳn.
Tâm trạng cứ không tốt là lại đấm đá túi bụi vào cô ấy.
Sau này lão già không biết từ khi nào dính vào thuốc phiện, đem hết những thứ đáng tiền trong nhà đi phá sạch.
Cuối cùng còn tính toán lên người con Tiểu Liễu.
Tiểu Liễu biết rõ nỗi khi bị bán đi, tuyệt đối sẽ không để con mình cũng tội như vậy.
Thế là nhân lão già say rượu, trốn ra ngoài.
Chạy trốn một mạch đến Bắc Bình.
Vì mình là người nơi khác, lại bị thọt , nên chẳng ai thuê cô ấy làm việc.
Cho nên đành phải dắt con đi xin ăn trên phố.
Cô ấy nói mình có thể dắt con sống được ngày nào hay ngày đó, còn hơn là con bị bán đi, mặc người ta chà đạp.
Nghe cô ấy kể xong trải nghiệm của mình, tôi hồi lâu không thở nổi.
Con người sao có thể đến mức này chứ.
“Nếu chị muốn có thể cùng tôi về nhà, nhà tôi có nhà máy, có thể cho chị một công việc, chỉ cần chăm chỉ, nuôi sống chị và con chắc không khó.”
Nghe lời này, Tiểu Liễu lại vội vàng quỳ xuống.
“Cảm ơn tiểu thư, cảm ơn tiểu thư.”
9
Trên đường về nhà, mấy đứa trẻ ở đầu ngõ đang nô đùa cửa.
Một đứa cầm tẩu thuốc của người lớn kiêu ngạo đứng trên đôn đá.
Đắc ý nói: “Nhìn xem đây là tẩu thuốc của cha tao, đẹp không, làm bằng ngọc đấy, chúng mày hút thuốc phiện giờ chưa? Phê lắm.”
Mấy đứa trẻ nghe xong: “Xì, nhà tao cũng có.”
Nhưng lại tranh nhau giành lấy tẩu thuốc trên tay đứa trẻ kia: “Cho tao thử, cho tao thử.”
Tôi tận mắt nhìn thấy, mấy đứa trẻ này học dáng vẻ của mấy con nghiện, nằm liệt xuống đất.
Mỗi đứa rít một hơi tẩu thuốc, lại học dáng vẻ của người lớn nhà mình, lộ ra vẻ mặt thoải mái.
Nhưng bên trong không có thuốc, chẳng có gì , chỉ là một cái ống bình thường.
Mấy hôm , thầy Tạ cùng chúng tôi thảo luận ở tòa soạn.
Gốc rễ của người dân nước ta bị hỏng từ khi nào.
Có người nói là từ khi Mãn Thanh sụp đổ.
Có người nói là từ khi người Tây dương xông vào cửa ngõ đất nước.
Nhưng bây giờ, tôi đã biết rồi.
Là bắt đầu từ cái tẩu thuốc này.
Nỗi của Tiểu Liễu cũng bắt đầu từ cái tẩu thuốc này.
Nhìn đám trẻ này, tôi như bị đeo chì.
Đi thế nào cũng không nổi.
Là đau lòng, là buồn bã, là sự bất lực không thể thay đổi lịch sử.
…
Khi tôi đưa Tiểu Liễu về nhà.
Nương đang thêu túi gấm trong nhà.
Thấy tôi dẫn một người phụ nữ lạ mặt về, cau mày lải nhải: “Sao lại nhặt người lung tung về nhà thế, bẩn thỉu thế này, ăn mày à.”
Tiểu Liễu con, mím môi căng thẳng không dám ho he một tiếng.
Bà quan sát Tiểu Liễu một lượt từ trên xuống dưới.
“Ôi chao, cô gái này bị sao thế?”
Sau khi tôi kể tình cảnh của Tiểu Liễu cho nương nghe.
Bà lau nước mắt: “Cha kiểu gì thế này, thật chẳng ra làm sao.”
Tôi nhìn dáng vẻ đẫm lệ của nương, hỏi bà: “Có thể để Tiểu Liễu ở lại không ạ?”
Nương tôi cầm khăn tay, vỗ một cái: “Đợi cha con về, nương nói với ông ấy, cho cô gái này một công việc, dắt con nhỏ cũng tội nghiệp.”
Thật ra nương tôi xưa nay là người mềm lòng.
Có lẽ là do từ nhỏ sống sung túc, được người lớn trong nhà cưng chiều, chưa nếm mùi , nên cũng không nhìn nổi người khác .
Tuy người có hơi phong kiến, nhưng lại không phải là người cố chấp.
10
Sau khi an cho Tiểu Liễu ổn thỏa.
Mấy ngày nay, trong lòng tôi luôn có một kế hoạch.
chí của tòa soạn, đa số chỉ đăng những lời hào hùng của mấy nhân vật lớn, mấy sinh viên.
Hoặc là những cuộc khẩu giữa các đại văn hào.
Họ mắng chính phủ vô dụng, họ mắng những hiệp ước bán nước, họ mắng quân phiệt, họ mắng người dân ngu muội.
Nhưng không ai quan tâm đến những người vô tội sự áp bức của thời đại, hưởng của tranh.
Cho nên tôi bèn thương lượng với thầy Tạ.
Tôi muốn ra một kỳ chuyên san kể về những con người bình thường này.
Thầy Tạ nghe xong, vô cùng tán thành.
Chẳng lâu sau, tôi liền đưa việc này vào lịch trình.
Và đối tượng phỏng vấn đầu tiên chính là Tiểu Liễu.
Cuối còn để lại câu hỏi: “Mọi người có thể kể lại những hủ tục mình từng chứng kiến thành câu chuyện và gửi đến cho chúng tôi.”
Quả nhiên, kỳ này vừa ra đã thu hút sự chú ý của rất nhiều người.
Còn có rất nhiều học sinh đến hộp thư tòa soạn để lại lời nhắn.
Có người kể về “tháp bỏ con” ở quê mình, bên trong toàn là bé gái.
Cũng có người phụ nữ bó lén lút gửi thư kể về nỗi đau đớn khi bị bó nhỏ.
Còn có người bị cha ép buộc hôn nhân mù quáng.
…
Tất những câu chuyện này, thông qua ngòi bút chỉnh sửa của các biên tập viên tòa soạn.
Toàn bộ hiện ra mắt mọi người.
Tôi tin chắc rằng nhận ra sai lầm thì có thể từ từ sửa đổi, nhưng không biết sai ở đâu thì cái sai đó mãi mãi không sửa được.
Những năm này, tôi đã viết câu chuyện của rất nhiều người.
Từ những người dân thường bình dị viết đến những sĩ ngoài tiền tuyến.
Từ những con phố phồn hoa viết đến hào khói lửa mịt mù.
Dùng máy , dùng bút ghi lại những nạn của họ.
Tôi còn quen biết rất nhiều người.
Trong đó, danh ca cậu bé bán nhắc tới, tiểu thư Hải Đường là đặc biệt nhất.
Danh ca ở thời đại này cũng giống như ngôi sao thời hiện đại vậy.
Nhưng điều khác biệt là, ở đây, họ dù có nổi tiếng đến đâu cũng chỉ bị gọi là con hát, xướng ca vô loài.
Lần đầu tiên quen biết cô ấy là ở ngoài tiền tuyến.
Cô ấy đang đoàn kịch đi động viên các sĩ.
Cô ấy động hỏi tôi, có thể kể câu chuyện của cô ấy hay không.
Tiểu thư Hải Đường sinh ra bên bờ sông Tần Hoài, cô ấy là kỹ nữ lầu xanh, còn cha là ai, cô ấy cũng không biết.
Từ nhỏ vì xinh đẹp, lại có giọng hát hay, bị bán đi bán lại mấy lần.
Từ đoàn kịch đến nhà quân phiệt, cuối cùng lại qua tay bị một ông lớn mua về, sau khi ông lớn chết, cô ấy lại trở về đoàn kịch.
Cô ấy nói cô ấy không có nhà, không có nơi chốn để về.
Nhưng một cô gái như vậy, lại có thể sống vô cùng đặc sắc giữa thời loạn thế.
Từ con của một kỹ nữ, từng bước đi đến trí đoàn kịch.
Đi biểu diễn khắp nước, dùng giọng hát này hát ra áo bông, hát ra thuốc men cho các sĩ tiền tuyến.
Cô ấy nói: “Mọi người có thể cảm thấy những con hát chúng tôi bẩn thỉu, nhưng tâm của chúng tôi không bẩn.”
Cô ấy nói: “Năng lực của tôi có hạn, những gì làm được không nhiều, nhưng tôi có thể làm được nhiêu thì sẽ làm bấy nhiêu.”
Tôi chưa từng nghĩ, một cô gái trải qua nhiều nạn như vậy, lại mang trong mình một trái tim vô tư đến thế.
Tôi hỏi cô ấy: “Cô cảm thấy ý nghĩa của việc làm này là gì?”
Cô ấy cười nói: “Tôi chỉ mong loạn thế thái bình, các cô gái đều có nhà để về.”
Một ước nguyện rất đơn giản, nhưng lại không biết phải đi nhiêu năm mới đến.
11
Năm Dân quốc thứ hai mươi sáu, máy bay đấu của giặc ngang nhiên bay lượn trên bầu trời Bắc Bình.
Tôi không còn nhà .
Cha đã sớm di dời phần lớn công nhân nhà máy xuống phía Nam.
Đêm khi thành thất thủ, tổ phụ ở trong nhà sống chết cũng không chúng tôi di dời xuống phía Nam.
Ông nói, Bắc Bình là nhà của ông, cha ông, ông nội ông, gốc rễ của ông ở đây.
Ông có chết cũng phải chết ở Bắc Bình.
nhà khuyên can không được.
Cha tôi tức giận cầm lấy con dao, kề lên cổ: “Hôm nay cha không đi, con sẽ chết ở đây!”
Tổ phụ nhìn dáng vẻ quật cường của cha tôi, đành phải thỏa hiệp.
Nhưng vừa ra khỏi thành, chuẩn bị lên tàu hỏa.
Tổ phụ lại lảo đảo chạy ngược trở về.
Miệng hét lớn: “Thúy Lan, Thúy Lan còn ở trong nhà.”
Nhà ga này đã đông nghìn nghịt người.
Tổ phụ chạy vào đám đông, thế nào cũng không thấy .
Cha cuống đến độ giậm .
“Cha, để con đi tổ phụ, thầy Tạ vẫn chưa đi, con sẽ cùng thầy Tạ và mọi người đi .”
Nói xong tôi lao vào đám đông.
Trên đường người chạy trốn khắp nơi.
Bắc Bình này đã sớm là một mảng xám xịt.
Tôi về nhà một lượt, phát hiện của tổ mẫu không thấy đâu, chắc là tổ phụ đã quay về lấy đi rồi.
Thế là tôi lại ra phố tổ phụ.
Nhưng mặc cho tôi gào thét thế nào, kiếm thế nào cũng không thấy ông.
Ở giữa quảng trường, rất nhiều người vây thành một vòng tròn, tôi nhìn thấy tổ phụ của mình.
Ông bị giặc túm lấy cổ áo.
Bọn chúng giật lấy ông coi như trân bảo trong ngực ném xuống đất, hung hăng giẫm một cái.
Tổ phụ lập tức nằm rạp xuống đất, cẩn thận từng li từng tí ghép lại đã vỡ nát.
người, khóc lóc gọi: “Thúy Lan, Thúy Lan…”
Giặc nhìn dáng vẻ chật vật của tổ phụ, cười ha hả.
Một lát sau, có mấy mặc quân phục màu vàng sẫm đi tới.
Bên cạnh có một gã đàn ông trung niên khúm núm đi .
Gã nói với Đại tá kia: “Đây là Nguyễn Bình Xương, là đại nho đương thời.”
Đại tá gật đầu vẻ đăm chiêu.
Giả tạo đỡ tổ phụ dậy: “Nào, lão tiên sinh, đứng lên.”
Tổ phụ liếc mắt nhìn , đứng dậy.
cười nói với tổ phụ: “Chỉ cần ông thừa nhận Đại Đông Á cộng vinh.”
“Ông và tôi sẽ là bạn tốt.”
Tổ phụ của tổ mẫu, trong đôi mắt đục ngầu lộ ra nụ cười tự giễu.
Bọn chúng biết cha là đại nho, có trí quan trọng nhường nào trong lòng người đọc sách Trung Quốc.
muốn tổ phụ thừa nhận đất nước của ông nuôi dưỡng một đám Đông Á bệnh phu.
muốn dùng cách này để đả kích lòng tự tin của người dân trong nước.
Tổ phụ cười lạnh, nhổ một bãi nước bọt vào mặt .
Cười lớn: “Giặc chính là giặc , tiểu quốc viên đạn cũng xứng sao?”
Đại tá đen mặt lau mặt.
Ra lệnh trói tổ phụ lên giá chữ thập.
Cầm dao dí vào ngực tổ phụ.
“Nói.”
Tổ phụ cắn răng cười.
Bọn chúng muốn đánh gãy sự kiêu ngạo của ông cụ này đâu có dễ dàng.
Tổ phụ cười gật đầu: “Lại đây.”
hiểu ý ghé sát lại, tổ phụ nhân cơ hội cắn đứt tai .
“Bọn bây sẽ xuống địa ngục, nhất sẽ như thế!”
sĩ quan kia tai, nổi trận lôi đình.
Ra lệnh lăng trì tổ phụ.
Tôi muốn lao lên, lại bị người phía sau giữ chặt lại.
Tôi quay đầu nhìn lại, là thầy Tạ.
Nước mắt lập tức trào ra, giọng khàn đặc: “Thầy Tạ, là tổ phụ của con, tổ phụ con ở kia, con phải đi cứu tổ phụ.”
Thầy Tạ bịt miệng tôi: “Không cứu được rồi, không cứu được rồi.”
Tôi tận mắt nhìn thấy máu thịt của tổ phụ bị lóc từng miếng một.
Máu tươi chảy đầy đất.
Những người xung quanh khóc lóc, , nắm chặt nắm đấm.
Tổ phụ không kêu một tiếng đau, cho đến khi ông chảy cạn giọt máu cuối cùng.
Lời cầu khẩn duy nhất cũng chỉ là: “Toàn ngã y quan, toàn ngã y quan!” (Giữ vẹn áo mũ cho ta!)
Tôi tay, cầm lấy chiếc máy ngực.
Tự tay chụp lại cảnh tượng này.
Sẽ có một ngày, bức này xuất hiện tòa án quốc tế.
Tổ phụ của tôi, đem từng giọt máu chảy vào lòng đất Bắc Bình, chảy vào trong tim người dân nước.
Máu thịt không còn thì đã sao, xương sống của ông vẫn còn, sẽ mãi mãi chống đỡ mảnh đất này.
Tiểu thư Hải Đường cũng chết trên lầu kịch ở Bắc Bình, khi chết trên người cô ấy quấn đầy bom, giặc bị tổ phụ cắn đứt tai kia đã bị bom của cô ấy nổ cho tan xác.
Sông Trường Giang và sông Hoàng Hà cũng giống như nhau, được mọi người tôn vinh là sông , sông Tần Hoài bắt nguồn từ Trường Giang.
Những đứa trẻ lớn lên bên sông Tần Hoài cũng là con của tổ quốc, sao có thể bẩn được chứ?