Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và MỞ ỨNG DỤNG SHOPEE để mở khóa toàn bộ chương truyện.
https://s.shopee.vn/1BEIl5JaQ9

Lưu ý: Nội dung trên chỉ xuất hiện 1 lần trong ngày, mong Quý độc giả ủng hộ. Xin chân thành cảm ơn!
3
Tạ Thanh Trì dặn ta đừng gặp đệ đệ chàng, lời ấy ta mơ hồ chẳng rõ đầu đuôi.
Nhưng việc cấp thiết trước mắt, là phải sửa sang lại tòa trống hoác cũ kỹ , để đợi ngày Tạ Thanh Trì trở về, nơi đây mới thật có dáng dấp của một mái nhà.
ngờ liền hai ba hôm liên tiếp, ngoài cửa phủ của Tạ Thanh Từ bên kia đường, cứ có người tụ năm tụ ba, len lén liếc mắt nhìn sang phía ta.
Lại có một vị cô nương xưng là bằng hữu thân thiết của Tạ Thanh Từ, họ Kỷ, tên Du, sai người gửi thiệp cầu kiến.
Ta nhớ lời Tạ Thanh Trì dặn, lại bận rộn tuyển chọn thợ thầy gia nhân, liền khéo léo từ chối từng người một.
Tỳ nữ gia nhân thì dễ chọn, chỉ khổ nỗi người thợ khéo thật chẳng dễ tìm.
Ta xem bao nhiêu bản vẽ mà chẳng ưng ý, hoặc là quá tục, hoặc là quá xưa cũ.
Giữa một buổi trưa mùa đông, nắng nhàn nhạt, ta gục đầu trên bản vẽ, xem đến mệt mỏi mà buồn ngủ rũ rượi.
Bất chợt, một bản vẽ mắt ta sáng lên, đình đài lầu các tinh tế thanh nhã, thậm chí đến cả loài hoa, cây cối trong vườn cũng hợp với ý ta vô cùng.
Vừa chọn trúng bản vẽ ấy, người quản lại tỏ ra khó xử.
“Giá công cao quá ?” ta hỏi.
“Không phải, hắn nói đưa bao nhiêu là tùy theo ý cô nương.”
“ chẳng phải tốt ?”
“Nhưng hắn lại nói chỉ chờ mỗi mình cô nương chọn hắn, mới việc.”
“ thì có gì khó xử?”
“À thì… hắn tự có chút tài hoa, nên cùng cô nương trực tiếp bàn bạc chọn lựa từng thứ một, sợ cô nương chọn sai đá núi hay cây cảnh, sau không đẹp lại trách hắn.”
thì có lý, nhưng khi ta nhìn bậc thềm, thấy một thiếu niên mặc áo thô, đầu đội mũ trùm lưới, vẻ ngoài đơn sơ đạm bạc, lòng ta vẫn còn lưỡng lự.
Thiếu niên ấy thấy ta do dự, liền khẽ bật cười: “Phu nhân là người Ngô quận?”
Giữa đất khách giọng quê hương, ta lập tức thấy thân thiết, vội hỏi:
“Ngươi cũng là người Ngô quận ?”
Hắn tháo mũ trùm, lộ ra khuôn mặt tuấn tú trong trẻo.
Cúi mình hành lễ, dáng dấp hết sức lễ độ, quy củ:
“Ta là Tạ Trĩ, vốn là người Quảng Lăng, từng học chung hai năm thư tại Ngô quận cùng đại lang Tạ gia. Giao tình rất thân thiết.”
“Nếu luận theo chi tộc, ta còn phải gọi đại lang một huynh trưởng.”
Thì ra là huynh đệ đồng tộc.
Ta liền giao phó mọi việc tu sửa vườn nhà cho Tạ Trĩ.
ngày sau đó, ta phát hiện, hắn cái gì cũng biết, lại rất tinh mắt.
món cổ vật, thư họa cũ để lừa người, hay cây cảnh, gạch ngói hàng kém đội lốt hàng tốt, hắn chỉ lặng lẽ uống trà không nói, mà bọn phường buôn đã đỏ mặt tự giác thu hàng dởm về.
Trên đường trở về, ta vừa đếm đơn hàng vừa tấm tắc khen:
“Tạ Trĩ, ngươi thật là có bản ! Vừa rồi ta còn định móc bạc ra trả, ngươi chỉ liếc mắt một cái, bọn họ đã không dám lừa ta nữa.”
“ mà đã gọi là bản ?”
“Chứ không thì là gì?”
Tạ Trĩ như nhớ đến ai, khẽ cười giễu:
“Như đại lang, quản lý gia nghiệp, đọc sách cầu công danh, đó mới gọi là bản hữu dụng.”
“Nhưng theo ta thấy, đọc được bao nhiêu sách, cũng chẳng bằng mắt ngươi vừa rồi phân biệt được gỗ tốt xấu, bản ấy cũng thật hiếm người sánh kịp.”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn, đôi mắt ngập tràn khâm phục:
“Người quản nói tiền công ngươi do ta định, ta thấy ngươi xứng đáng phần nhiều nhất.”
Tạ Trĩ được khen thì khóe môi khẽ cong, giống hệt một con công khoe đuôi:
“ thì có là gì? Nếu luận đến châu ngọc gấm vóc, thư họa cổ tịch, ta còn lợi hại hơn nhiều!”
Vừa nói đến gấm vóc, thì đi ngang một tiệm .
Ta kéo tay Tạ Trĩ: “Ngươi dạy ta chọn loại tốt một chút, ta may áo ấm gửi cho đại lang.”
Thấy ta ôm bốn năm xấp , Tạ Trĩ liền bước đến đón lấy, giọng lại lầu bầu có phần chua xót:
“Đại lang thật có phúc lớn, ta chưa nói Bành Thành có ai bị lạnh đến c.h.ế.t, phải mua nhiều đến ?”
Thấy ta đem một xấp lụa màu nguyệt bạch ướm thử lên người hắn, Tạ Trĩ liền quay mặt sang một bên, chẳng vui chút :
“Đại lang mặc huyền sắc mới hợp, cô nương không cần lấy ta mẫu để đo xem hợp với huynh ấy .”
“Không phải,” ta cười híp mắt nhìn hắn, cố ý ra vẻ khó xử, “xấp là để tặng ngươi.”
“Nhưng nghĩ lại, Quảng Lăng hình như cũng chưa từng có ai c.h.ế.t rét bao giờ, hay thôi …”
Tạ Trĩ sững người, rồi bất ngờ giống như tiểu hài nhi nũng, ôm chặt xấp lòng không buông:
“Năm nay lạnh lắm đó, e rằng phường thợ nghèo như ta cũng sắp c.h.ế.t rét rồi!”
Ta vừa cười, hắn cũng ngượng ngùng cười theo.
Khi trời ngả chiều, ngoài trời bắt đầu đổ mưa lạnh.
Lồng đèn đỏ rực trước tửu lâu chiếu lên làn sương mù, trông thật ấm áp.
Lẩu nghi ngút khói được mang lên, tiểu nhị còn đưa đến một bình nóng một đĩa ngỗng muối, thứ ta chưa từng gọi.
“Là một vị cô nương gửi tới cho hai vị.”
Ta quay đầu nhìn lại.
Nàng ta vừa cười vừa tiến đến thân mật khoác tay ta, mắt lại liếc về phía Tạ Trĩ:
“Tẩu tẩu đến giờ vẫn không ra ta ? Hôm nọ ta đến bái phỏng còn bị từ chối ngoài cửa kia đấy.”
Là Kỷ Du, tiểu thanh mai mà Tạ Thanh Từ từng nhắc đến.
Ta vội đứng dậy xin lỗi, nhưng nàng lại không để tâm, mắt đầy ẩn ý nhìn sang Tạ Trĩ:
“Tẩu tẩu cũng nên cẩn trọng, nhà họ Tạ có vài người ăn chơi lêu lổng, chỉ giỏi lừa đảo thôi.”
Kỷ Du vừa dứt lời, đám thiếu niên ngồi cùng bàn cũng phá lên cười, không buông tha lời .
Thấy lời lẽ châm biếm của họ chẳng kiêng dè Tạ Trĩ chút , ta liền sa sầm nét mặt, đặt đũa :
“Ta không biết cô nương nói ai, nhưng Tạ Trĩ không phải loại người như .”
“Hắn thành thật, lại có bản . Xin Kỷ cô nương chớ nên buông lời khinh bạc.”
Thấy ta nổi trận lôi đình, mấy thiếu niên bên kia liền ghé đầu xì xầm:
“Quái lạ, chẳng phải nói Thẩm cô nương là người tính tình hiền hòa hay ?”
“Thật kỳ quái, chẳng phải hắn ghét nhất kiểu nữ tử đanh đá nổi giận ư? giờ vẫn chưa bỏ đi?”
Tạ Trĩ khẽ kéo tay áo ta, gắp một miếng ngỗng muối bỏ bát, nhẹ giọng dỗ dành:
“Ngỗng muối với ở đây là tuyệt nhất Quảng Lăng đấy, nếm thử xem?”
“Ta không thèm ăn đồ nàng ta đưa!” Ta bực bội trừng mắt nhìn hắn, “Ăn gì mà ăn! Ngươi cũng không được ăn!”
Tạ Trĩ ngẩn người, rồi cười khẽ, ngoan ngoãn buông đũa :
“Được, ta không ăn nữa, cùng cô nương tức giận .”
Xe ngựa lắc lư, mưa lạnh hắt khung cửa.
Tạ Trĩ còn vội vàng dỗ ta:
“Tức giận hại thân, nếu vì người như ta mà cô nương sinh bệnh thì không đáng đâu.”
“Nói cũng lạ, đêm tân hôn bị Tạ nhị lang bỏ mặc, cô chẳng giận. Thương nhân lừa lọc cô cũng chẳng giận.
“Ấy mà hôm nay, lại vì ta mà tức giận lớn như ?”
Ta càng nghĩ càng thấy xót xa cho Tạ Trĩ:
“Bởi vì ngươi là người tốt, nên ta không để họ bôi nhọ ngươi như .”
“Tất cả đều là lỗi của ta, lẽ ra ngay từ lần đầu gặp, ta phải nhìn ra rồi mới đúng, ngươi không có y phục ấm áp để mặc, chẳng có nơi ổn định để ở, còn bị người ta chèn ép, đến việc cũng khó tìm.”
“Tạ Trĩ, năm , ngươi chỉ một thân một mình, có phải sống rất khổ cực không?”
Tạ Trĩ không đáp, chỉ ngơ ngẩn nhìn ta thật lâu, thật lâu.
Lâu đến mức vai đã ướt sũng vì mưa, hắn cũng chẳng hay biết.
Ta nghiêng người đến gần nhìn sắc mặt hắn, Tạ Trĩ chợt quay đầu, mặt đỏ bừng như tôm luộc.
Hắn khẽ siết chặt vạt áo nơi đầu gối, cực kỳ lúng túng:
“…Cô đừng nhìn ta. Ta… ta hình như mắc bệnh rồi.”
“…Mà hình như là bệnh nặng lắm, nguy mất thôi.”
Hắn quả thực bệnh chẳng nhẹ, quấn chăn lông dày cộm, tay ôm bát canh gừng mà vẫn hắt hơi không ngừng.
Gian phòng nơi hắn ở là một gian phòng nhỏ hẻo lánh, chăn đệm mỏng manh, ta phải mang một chiếc hồ cừu dày phủ lên, sợ hắn nhiễm lạnh thêm.
Dưới mái hiên, mưa tí tách không ngừng rơi, khí lạnh mùa đông như ngấm tận cốt tủy con người.
Ngoài còn có cây ngọc mới chuyển trồng mấy hôm trước, đáng tiếc cành lá trơ trụi, chưa đến xuân thì chẳng có cảnh sắc gì để ngắm.
Trong phòng, bếp nhỏ hâm một ấm canh gừng, lửa hồng rực hắt lên gương mặt Tạ Trĩ, nửa khuôn mặt hắn ẩn bóng tối:
“Nghĩ cũng may, hôm nay người bị ướt mưa rồi sinh bệnh là ta, không phải đại lang. Bằng không, phu nhân lại phải lo lắng rồi.”
Lời ấy có chút là lạ.
Ta khẽ gật đầu: “Cũng phải, may mà đại lang không nhiễm bệnh. Giờ ở Bành Thành chắc đã có tuyết, chẳng biết đại lang có kịp mặc thêm áo ấm hay chưa.”
Không rõ vì , xong lời ấy, Tạ Trĩ liền nổi giận, đặt bát canh gừng bàn, giận đến mức không thèm uống.
Ta nghĩ chắc là do canh quá cay.
Tạ Trĩ giận bát canh gừng, kéo tấm chăn mỏng trùm kín đầu, chẳng đầu chẳng đuôi mà thốt một câu:
“Hôm ấy Tạ nhị lang bỏ trốn hôn , thật ra cô nương cũng nên thấy vui mừng vì không phải gả cho hắn.”
“Dù thiên hạ ai ai cũng đều nói nhị lang không ra gì, chẳng có tiền đồ, chẳng bằng huynh trưởng hắn.”
“Bây giờ lại hay, cô nương có gả cho đại lang rồi.”
Ta ôm bát canh gừng, nghĩ ngợi một lát rồi nghiêm túc đáp lời:
“Không phải đâu.”
“Ban đầu bà mối nói với ta rằng là đại lang, khen chàng tài giỏi, có bản quản lý cơ nghiệp Tạ gia. Còn nhị lang thì được cưng chiều, chẳng nên thân.”
“Nhưng ta nhìn sách họa của nhị lang, lại thấy hắn rất tốt, vẽ đẹp, sửa vườn cũng có phong nhã.”
“Ta cũng không phải người có tiền đồ gì, nghĩ rằng nếu đại lang lo được mọi việc, ta nhị lang sống ngày an ổn cũng được rồi.”
“ ngờ hắn không biết ai thêu dệt, rồi ghét bỏ ta.”
Tạ Trĩ từ trong hồ cừu ngóc đầu ra, mắt sáng rỡ mà gấp gáp nhìn ta:
“Cô thật thấy hắn tốt ?”
“Thật mà.”
“ nếu nhị lang quay về, nói rằng hắn vẫn …”
“Không được.”
Bị ta dứt khoát ngắt lời, mắt sáng như của Tạ Trĩ lập tức ảm đạm lại, nhưng vẫn không cam lòng hỏi tiếp:
“ nếu… nếu đại lang thay lòng đổi dạ thì ?”
Nếu chàng thay lòng, ta sẽ mang “chân tâm” mà chàng đưa, đem bán lấy bạc, rồi trở về Ngô quận. cũng chẳng tính là thiệt.
Ta không đáp lời, Tạ Trĩ nhìn ta, thần sắc càng trở nên khó đoán.
Đúng lúc ấy, nha hoàn ngoài cửa bẩm báo, có thư của đại lang Tạ Thanh Trì gửi tới.
Trong thư chàng nói đã viết thư báo bình an cho cha mẹ ta, dặn họ chớ lo lắng.
Đợi chàng về Quảng Lăng, sẽ đích thân đưa ta hồi hương thăm cha mẹ.
Thư còn kèm theo một gói đặc sản vùng Bành Thành.
Ta vui vẻ đem thư đưa cho Tạ Trĩ xem, nhưng hắn chỉ khẽ cười lạnh, không buồn lấy.
“Ngươi nói xem, ở Quảng Lăng có chuyện gì mới mẻ không? Ta có kể với đại lang.”
Tạ Trĩ như nghĩ ra điều gì, mỉm cười đầy thích thú:
“Chuyện mới à…”
“Vườn sửa đẹp , dĩ nhiên phải viết thư nói với đại lang một .”
“Trong thư, nếu phu nhân gọi ta một A Trĩ, huynh ấy sẽ biết ngay là ai thôi.”
4
Mưa đông tí tách rơi suốt đêm ngoài rèm.
Tạ Thanh Từ nghĩ, mình cũng nên viết một phong thư gửi cho A huynh, kể đôi điều mới lạ ở Quảng Lăng.
Tỷ như chuyện Thẩm cô nương rất thân thiết với hắn, nàng gọi huynh ấy là “Thanh Trì”, nhưng lại gọi hắn bằng nhũ danh “A Trĩ”.
Tỷ như hắn được một bộ y phục, hẳn là do chính tay nàng may vá, mũi chỉ tinh tế cẩn trọng, chỉ sợ hắn chịu lạnh.
Tỷ như khi hắn bị cảm, nàng thái gừng thật mảnh, áo hồ cừu hắn đắp mang theo hương ngọc trên người nàng, như cả người được nàng ôm trọn lòng.
Chỉ viết chừng ấy thôi thì vẫn chưa đủ gọi là “*huynh hữu đệ cung”.
(*huynh hữu đệ cung: Anh em hoà thuận, kính trên nhường dưới)
Hắn nghĩ, vẫn nên nói mấy lời thật lòng mới phải.
A huynh, thật ra mấy năm nay ta vẫn luôn ghen tỵ với huynh.
Ghen tỵ huynh gì cũng chu toàn, người người tán thưởng, từ cha mẹ đến thầy bạn đều nói huynh hơn ta.
Còn ta chẳng khác một tên hề, giành với huynh từng chút thương yêu của cha mẹ, tranh , tranh vật quý.
mà huynh cái gì cũng không để tâm, cái gì cũng nhường, ta tranh đến cùng lại cũng chẳng vui vẻ gì.
Ngẫm lại thật nực cười, có ai thắng rồi mà vẫn trắng tay chứ?
Nhưng A huynh, từ nay về sau ta không tranh với huynh nữa.
, cổ vật, gia nghiệp Tạ gia, ta nhường hết cho huynh.
Chỉ xin A huynh nhường cho ta một người là Thẩm Anh.
Nếu huynh biết, nàng có giữa trăm bức họa chọn trúng ta.
Một cô nương dịu dàng như lại vì ta mà nổi giận.
Nàng vừa dịu dàng vừa thông tuệ, nhưng lại luôn khâm phục một kẻ trong mắt mọi người là “ăn chơi vô dụng” như ta.
A Huynh chắc chắn cũng sẽ thấy nàng ta là trời sinh một đôi.
Viết xong, Tạ Thanh Từ đặt bút .
Gió lạnh lùa từ khung cửa, rét buốt thấu da.
Ấy mà bên bàn còn có lò sưởi nhỏ, áo hồ cừu khoác trên người lại lòng người như sôi sục.
Cửa bị nhẹ nhàng đẩy ra, hương ngọc ấm áp tràn ngập căn phòng.
Là Thẩm Anh.
Nàng lén mua gạo nổi nhất ở trấn, tươi cười đưa cho hắn một chén.
Tạ Thanh Từ chống cằm, nhìn nàng nâng chén , nhấp từng ngụm nhỏ.
Hắn nhắc nàng, uống gạo rồi để gió đêm lùa , dễ say lắm.
Nhưng đã muộn rồi.
Nàng đã say mất rồi.
Say mà không huyên náo, chỉ mỉm cười nhìn hắn, hắn nói gì nàng cũng gật đầu: “Được.”
“Thật thấy nhị lang tốt lắm ?”
“Ừm, tốt.”
“Nếu ta có lúc đó lừa nàng, nàng có giận không?”
“Không đâu.”
“Nếu nhị lang quay về, nói rằng hắn vẫn cưới nàng thì ?”
“Được thôi.”
lời thì thầm mơ màng của nàng vang lên, như sấm sét nổ vang trong lòng hắn.
Thấy mặt hắn đỏ rực, nàng nghi hoặc ghé sát, áp sát lên trán hắn, dường như vẫn chưa đủ.
Tạ Thanh Từ không dám nhúc nhích, nơi nàng chạm tới như bị lửa đốt rừng thiêu, giống như có một cành ngọc trồi lên từ n.g.ự.c hắn.
Khi tuyết trên mái ào ạt đổ , ngoài cửa sổ, ngọc từng đóa từng đóa nở rộ rực rỡ.
Đầu hạ, chim non lén tha quả anh đào; thu sang, thú nhỏ nơi sơn cốc uống dòng suối mát.
Chờ đến lúc Tạ Thanh Từ tỉnh dậy, đầu đau nhức, cổ họng rát bỏng.
Cành ngọc ngoài cửa vẫn trơ trọi khô khốc giữa mùa đông giá rét.
Lò sưởi đã tắt, nóng không còn, chỉ còn một ấm canh gừng nguội lạnh.
Hắn khẽ sờ áo hồ cừu dưới thân, bật cười không ra .
…Hắn quả thật là bệnh không nhẹ.
Lại dám vọng tưởng giữa ngày đông, hái được một cành xuân.
Lúc Tạ Thanh Trì rời nhà, Quảng Lăng vẫn còn mưa thu rả rích; đến khi hồi kinh, nơi đây đã phủ đầy tuyết trắng.
Hai tháng , tựa như chàng chưa từng rời xa.
Bởi Thẩm cô nương luôn gửi thư, gửi áo ấm, gửi vô số món đồ lạ nàng thấy thú vị.
Bánh đậu đỏ, bánh màn thầu nhân hạt dẻ, bánh cua muối, thậm chí cả một con ngỗng cổ dài chính hiệu Quảng Lăng cũng được nàng gửi tới.
Ngay cả Lâm đại nhân — vị Chuyển vận sứ cùng đi cũng không nhịn được cười trêu chọc:
“Hoàng thượng chọn cho ngươi biết bao tiểu thư quyền quý, ngươi đều không ưng.”
“Nếu để họ biết ngươi cuối cùng lại cưới một nàng dâu tham ăn, chắc hẳn sẽ hối hận vì hôm yến tiệc không ăn thêm vài miếng bánh sữa.”
Một vài thị tòng gan lớn cũng hùa theo cợt nhả:
“ nói cô nương Ngô quận khéo tay thêu thùa, một chiếc khăn có thêu ra mười loài hoa.”
“ mà Tạ công tử nhà ta lại cưới được một vị nương tử vụng về, đến tay áo áo ấm mùa đông còn để lọt gió!”
Tạ Thanh Trì đưa tay vuốt lớp thô của áo khoác trên người, không kìm được mà cất lời bênh vực nàng:
“Áo là do ta . Thêu kín quá thì nóng nực.”
“Vả lại, ta cưới nàng, đâu phải để nàng may vá cho ta.”
Trăng lạnh treo cao, soi sáng bến đò Quảng Lăng.
Mấy hán tử buôn hàng uống say, lời lẽ chẳng kiêng dè: