Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và MỞ ỨNG DỤNG SHOPEE để mở khóa toàn bộ chương truyện.

https://s.shopee.vn/9zphGkqkO8

Lưu ý: Nội dung trên chỉ xuất hiện 1 lần trong ngày, mong Quý độc giả ủng hộ. Xin chân thành cảm ơn!

Chương 10

Tạ Tự dường như đoán được bà muốn gì, vội lắc đầu, hoảng loạn.

Tổ mỉm cười:

“Mượn ơn báo đáp, là lỗi của ta. Trong lòng ta cũng hổ thẹn lắm. Có đôi khi ta cũng muốn đi xong, nhưng không nỡ rời bé. Nó chịu khổ quá nhiều, ta đã hứa sẽ ở bên cạnh nó. Nhưng trong phủ, người ta gì cũng có.”

ta đã sai, mặt mũi nào mà dám vào phủ gặp nó chứ?”

“Không vậy, không …” Tạ Tự khàn giọng:

“Là cháu bất hiếu, lẽ sớm rước người vào phủ.”

“Tạ lang quân, ta không trách đâu. Bá gia vốn nhân , cũng là bậc quân t.ử. Nhưng đời người mà, chẳng mấy ai tránh được chuyện ngược lòng trái .”

“Củ nhân sâm kia kéo dài mạng ta thêm bốn năm, nhưng cũng khiến ta Lê nương ly biệt suốt bốn năm mới được đoàn viên.”

Giọng tổ dịu dàng như cũ:

sự của các cũng vậy thôi, trái lòng người, không trọn duyên.”

“Đã từng là phu thê, nhưng tình mỏng duyên cạn, hữu duyên vô phận.” Tổ xoa đầu , giọng nhẹ như gió:

“Biển đời mênh m.ô.n.g, hãy tiễn nhau một đoạn.”

Tạ Tự cúi đầu, vai run lên, nước mắt rơi xuống lặng lẽ.

Gió nổi lên.

Tổ ngẩng đầu nhìn khắp vườn lê, khẽ cười:

“Tiếc là… năm chẳng kịp ăn trái lê rồi.”

Lần cuối ta gặp Tạ Tự là vào đầu thu, khi những quả lê chín mọng.

Sau khi lo liệu xong tang lễ tổ , ta Hành ca nhi ngồi xe khỏi thành. Khi xe ngựa đi đến đình nghỉ chân ngoài thành, Hành ca nhi khẽ giật dây cương, :

“A tỷ, trong đình phía trước là Tạ đại nhân.”

Ta vén rèm bước xuống.

Trong đình, Tạ Tự đứng , tay chắp sau lưng, một thân trường bào lam sẫm thêu mây nổi hạc bay, thắt đai bạc nơi eo — dáng vẻ phong nhã như ngọc, tiêu sái như xưa.

tiết mây nổi hạc bay trên áo — chính tay ta từng thêu từng đường chỉ.

Trong đình có sẵn ấm trà nghi ngút khói, ta ngồi đối diện, Tạ Tự rót ta một chén, mỉm cười hỏi:

“Lần này định đi đâu?”

Ta cúi đầu uống trà, hương lan thoảng đến dịu nhẹ:

“Thục Châu.”

Không khí trầm mặc trong chốc lát. Mãi sau, Tạ Tự mới chậm rãi :

“Thục Châu à… ruộng tốt mênh m.ô.n.g, đất trời ưu đãi — là vùng đất lành.”

Ta nhìn , mỉm cười một cái.

“…Lê nương.” Tạ Tự cúi đầu, giọng trầm chậm:

“Có những lúc ta nửa đêm giật mình tỉnh giấc, vừa hối hận, vừa đau lòng.”

“Ta hay nghĩ… giá như đêm tân hôm , ta dịu dàng với hơn một chút; giá như khi cầu xin được theo ta đi Thục Châu, ta đã chịu mang theo — thì sao nhỉ?”

“Với tính tình nhu hòa, tâm tư tinh tế như … nếu ta buông bỏ định kiến, có lẽ đã chẳng đi đến kết cục hôm .”

“Chuyện đã qua rồi.” Ta cười nhạt.

“Bá phủ rất tốt, chàng cũng rất tốt — chỉ là, không hợp với ta.”

rồi.” Tạ Tự khẽ cười.

“Chim trời… vốn nên bay cao.”

đứng dậy, nâng chén trà thay rượu tiễn biệt, dịu dàng :

“Ngàn dặm xa xôi, mong bảo trọng.”

Ta chạm chén :

“Trời xa đất rộng, mong chàng bảo trọng.”

Xe ngựa tiếp tục lăn bánh. Từ khung cửa sổ, ta ngoái nhìn — bóng Tạ Tự ngày càng nhỏ dần, cổng thành cũng mờ khỏi tầm mắt.

Ta ngẩng đầu — trời cao, nắng vàng, gió thu mát rượi.

Chim sẻ… đã bay phương Nam.

Người dẫn chương : “Xin chào quý vị khán giả, chào mừng đến với chuyên mục Thiên Niên. Hôm , rất vinh hạnh được gặp Giáo sư Dư từ Đại học Yến Kinh, ta một lần nữa bước vào giới hội của Thẩm Lê.”

Giáo sư Dư: “Đều là cố nhân cả, khỏi cần giới thiệu nhiều nữa.”

Người dẫn chương : “Giáo sư, nghe tranh Một gốc tuyết vừa được khai quật đã xác nhận là tác phẩm thật của Thẩm Lê?”

Giáo sư Dư: “Đúng vậy. Dưới sự phối hợp của nhiều chuyên gia liên ngành, đối chiếu đầy đủ các chứng cứ — hoa lê này tuy không có đề tên hay ấn riêng, nhưng từ b.út pháp, bố cục, màu sắc mà xét, hoàn toàn khớp với đặc điểm tranh thời kỳ đầu của Thẩm Lê.”

Người dẫn chương : “Việc này gây chấn động cả mạng xã hội, không chỉ bởi sức ảnh hưởng ‘đỉnh lưu’ tại của những tác phẩm của Thẩm Lê, mà còn vì Một gốc tuyết được tìm thấy trong lăng mộ của danh thần Tạ Thành Quân — một trong những trọng thần khai quốc đầu thời Hoàn triều.”

“Dù là chính sử hay dã sử, đều ghi chép rõ ràng: giữa ông Thẩm Lê từng có một đoạn nhân duyên.”

Giáo sư Dư: “ rằng, tranh này được bảo tồn quá mức hoàn hảo — chắc chắn lúc sinh thời người đã vô quý trọng.”

Người dẫn chương : “Tạ Thành Quân một đời thăng trầm, làm quan đến chức Thủ phụ, duy chỉ có đường nhân là gập ghềnh. Sau khi hòa ly với Thẩm Lê, tương truyền cả đời không tái giá.”

Giáo sư Dư: “Chính sử rất ít ghi chép sự của ông, chỉ có thể xác định: cả đời không có , sau nhận nuôi từ chi khác trong họ.”

Người dẫn chương : “Tình cảm giữa hai người , đến khiến nhắc mãi không thôi. Nhiều người tiếc nuối, nếu cuộc nhân trọn vẹn, ắt hẳn sẽ là một đoạn giai thoại cầm sắt hòa minh.”

Giáo sư Dư: “Nhưng như vậy thì đã không còn Thẩm Lê như ta biết ngày .”

“Thẩm Lê có được thành tựu nghệ thuật ngày , không chỉ nhờ khí vận cao khiết trong kỹ pháp, cảnh thoát tục; mà còn bởi suốt một đời bà đi khắp đại giang nam bắc, rừng sâu núi thẳm, mây trôi nước chảy — mở lối đi mới dòng tranh thủy mặc điền viên sơn thủy.”

“Với thân phận nữ nhi, bà đã lấp đầy góc khuất bị lãng quên trong lịch sử, khắc một hình tượng nữ t.ử phong nhã tiêu d.a.o mà không mất đi sự điềm đạm rộng lượng.”

“Cuối đời bà quy y cửa Phật, trong tranh dần thiền , thấu hiểu tạo hóa, như được thiên dẫn lối. Vì lẽ , — từ nho sinh đến khuê nữ, đều tìm thấy chốn lý tưởng trong tranh của bà. Không ai là không yêu mến Thẩm Lê — không chỉ vì tranh, mà còn bởi khí chất nhân cách của bà.”

Người dẫn chương : “Đúng . Nếu bà gắn bó cả đời với Tạ Thành Quân, thì chỉ là một phu nhân Thủ phụ vô danh trong sử sách, gian cũng chẳng còn Thẩm Lê được lưu danh .”

“Có điều trong giới học thuật kiến rằng — so với tranh sơn thủy, Thẩm Lê thật càng yêu thích vẽ lê. Nhưng sau tranh liên quan đến lê rất ít xuất . Lần này tranh được khai quật có thể xác thực điều không?”

Giáo sư Dư: “Thẩm Lê quả thực yêu thích vẽ lê, phần lớn xuất trong giai đoạn đầu nhân. Khi kỹ pháp còn non, chất chứa u sầu, nhưng phối màu thanh nhã, cảnh đã có nét thần vận sau. tôi suy đoán — lúc bà bị giam hãm trong nội trạch, tầm nhìn tư tưởng còn hạn chế.”

sau Thẩm Lê vẽ lê, nhưng trong vô số tranh điền viên sơn thủy, dần không còn nổi bật. già, cháu gái bà đã tập hợp tất cả tranh vẽ lê, biên soạn thành tập tranh, chính bà đề tựa bằng thủ b.út.”

“Cả đời Thẩm Lê trải nghiệm phong phú, rực rỡ phi thường. Trong thời đại bà sống đến tám mươi tuổi — tương truyền tranh cuối lúc sinh thời của bà cũng là lê. Khi cháu gái phát , hoa lê trắng muốt đã rụng đầy người bà. Bà cầm c.h.ặ.t b.út, an nhiên qua đời dưới tán lê.”

Người dẫn chương : “Tập tranh , Thẩm Lê đề câu gì vậy?”

Giáo sư mỉm cười: “Trù trướng đông lan nhất chu tuyết, nhân sinh khán đắc kỷ thanh minh.” (Sầu đượm bên hiên một gốc tuyết — nhân sinh, có mấy ai nhìn thấu rõ ràng?)

“Tập tranh được đặt tên là ‘Một Gốc Tuyết’.”

Hết.

Tùy chỉnh
Danh sách chương